Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử Quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ (1862 – 1945) của nghiên cứu sinh Bành Thị Hằng Tâm, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Minh Oanh và TS. Lê Hữu Phước tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ hệ thống giao thông – cơ sở hạ tầng kỹ thuật giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng và quốc gia. Mặc dù Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm, trong thực tế hiện nay hạ tầng giao thông vận tải nơi đây vẫn chưa phát triển tương xứng, còn tồn tại thực trạng là "vùng trũng về giao thông". Về mặt học thuật, việc đánh giá các di sản thuộc địa của chế độ thực dân Pháp vẫn còn nhiều tranh luận giữa quan điểm thực dân tự nhận có công "khai hóa văn minh" và bản chất bóc lột nhằm phục vụ lợi ích chính quốc. Mặt khác, các công trình trước đây chỉ tiếp cận giao thông Nam Kỳ thời Pháp thuộc một cách đơn lẻ theo từng địa phương hoặc từng loại hình vận tải riêng biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống trên góc độ lịch sử kinh tế - xã hội.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phục dựng lại tiến trình lịch sử hình thành và phát triển hệ thống giao thông Nam Kỳ từ năm 1862 đến năm 1945; từ đó đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học về mặt tích cực, hạn chế và tác động của hệ thống này đối với kinh tế - xã hội Nam Kỳ, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử.

Để đạt mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Làm rõ chính sách khai thác thuộc địa nói chung và những chính sách cụ thể gắn với việc phát triển hệ thống giao thông của thực dân Pháp ở Nam Kỳ trong giai đoạn 1862 – 1945.
  2. Phục dựng quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông Nam Kỳ thời thuộc Pháp thông qua các hoạt động quản lý nhà nước, đầu tư xây dựng và khai thác hệ thống giao thông mới phục vụ hoạt động khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Kỳ và Đông Dương.
  3. Đánh giá sự tác động của hệ thống giao thông mới ở Nam Kỳ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Nam Kỳ, Việt Nam và Đông Dương.
  4. Xác định những mặt tích cực và hạn chế từ quá trình hình thành, phát triển hệ thống giao thông Nam Kỳ từ đó rút ra một số kinh nghiệm lịch sử cho quá trình xây dựng và phát triển hệ thống giao thông cho vùng Nam Bộ và Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ từ năm 1862 đến năm 1945 dưới góc độ sử học, bao gồm bối cảnh lịch sử, quá trình xây dựng bốn loại hình giao thông (đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường hàng không), cùng thành tựu, hạn chế và tác động kinh tế - xã hội.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Không gian: Địa bàn Nam Kỳ thời thuộc Pháp (Cochinchine).
  • Nội dung: Sự hình thành, xây dựng và khai thác giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không do chính quyền Pháp thực hiện.
  • Thời gian: Từ năm 1862 (thời điểm Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ và bắt đầu xây dựng hạ tầng) đến năm 1945 (thời điểm chấm dứt chế độ cai trị của Pháp). Phân kỳ thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (1862 – 1918) gắn với quá trình bình định và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất; Giai đoạn 2 (1919 – 1945) gắn với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai đoạn khủng hoảng và thời kỳ liên minh Pháp - Nhật cai trị trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế:

Nhóm nghiên cứu của tác giả trong nước về vùng đất Nam Kỳ gồm các bộ địa chí cổ như Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) của Lê Quang Định do Phan Đăng dịch (2003) ghi chép tường tận đường trạm, dịch trạm, sông núi đầu thế kỷ XIX; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) mô tả sông ngòi, hành chính vùng Gia Định. Các khảo cứu hiện đại có Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đất Gia Định xưa (1984), Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa (1985) của Sơn Nam khảo cứu việc đào các kênh lớn; Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – những chứng tích lịch sử của Văn Tạo; Sài Gòn năm xưa (1991) của Vương Hồng Sển; Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918) (1999) của Dương Kinh Quốc; các bộ thông sử của Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự (1960), Viện Sử học (1977, 2017), Phan Huy Lê (2016), Đoàn Minh Huấn (2016) và Nguyễn Đức Hiệp (2016).

Nhóm nghiên cứu của tác giả trong nước về giao thông Nam Kỳ có Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ (1970) của Nguyễn Thế Anh; Giao thông vận tải Việt Nam giai đoạn 1858-1957 (1988) của Phan Văn Liên; Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam (1999) của Nhà xuất bản Giao thông vận tải; Lịch sử kinh tế Việt Nam của Đặng Phong (2002) và Phạm Văn Chiến (2003); Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu (2012) của Trần Hữu Quang; hồ sơ quy hoạch đường sắt của Cục Đường sắt Việt Nam (2013); bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Lợi về giao thông Mỹ Tho; sách của Nguyễn Đình Tư (2016); Lịch sử 60 năm hàng không dân dụng Việt Nam (2016); cùng các luận án tiến sĩ của Lê Huỳnh Hoa (2002) về Cảng Sài Gòn, Trần Hữu Thắng (2018) về thủy nông Tây Nam Bộ, và các luận án kinh tế địa phương của Trần Thị Mai (1998), Võ Thị Hồng (1998), Nguyễn Thùy Dương (1998).

Nhóm nghiên cứu của tác giả nước ngoài bao gồm các công trình khảo cứu: Baurac J.-C. (1899) với La Cochinchine et ses habitants, provinces de I’Ouest; Prosper Cultru (1910) với Histoire de la Cochinchine française: des origines à 1883; Jean Bouchot (1927) với Documents pour servir à l’Histoire de Saigon 1859 - 1865; Guide historique des rues de Sai Gon (1943); 23 tập chuyên khảo tỉnh (Monographie de la province) của các tác giả Pháp và Việt Nam (M. Robert, Victor Duvernoy, Louis Girerd, Lê Thành Tường, Nguyễn Văn Hải...); công trình phân tích dòng vốn đầu tư của Jean-Pierre Aumiphin (1994); hồi ký L'Indo-Chine française của Paul Doumer (1905/2016); sách của Léopold Pallu de la Barrière (1864).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình của tác giả nước ngoài mang định kiến thực dân, thiếu tính khách quan; các công trình trong nước giai đoạn trước chiến tranh tập trung chủ yếu vào phong trào đấu tranh chính trị hoặc chỉ xem xét hệ thống giao thông như công cụ bóc lột thuần túy. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu chỉ tìm hiểu riêng rẽ từng loại hình (như đường sắt hoặc cảng biển) hoặc giới hạn trong từng địa phương (như Sài Gòn, Mỹ Tho, Sóc Trăng). Luận án xác định nhiệm vụ lấp khoảng trống bằng việc nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ cả bốn loại hình giao thông trên quy mô toàn xứ Nam Kỳ xuyên suốt giai đoạn 1862 – 1945 dưới góc độ lịch sử kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của luận án dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, bảo đảm cách nhìn nhận biện chứng, khách quan, toàn diện và có tính kế thừa lịch sử khi xem xét các hiện tượng kinh tế - xã hội thuộc địa.

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành sử học bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Phương pháp chủ đạo dùng để tái hiện quá trình hình thành, quản lý và vận hành hệ thống giao thông gắn liền với bối cảnh chính trị, các quyết sách hành chính và diễn trình các cuộc khai thác thuộc địa theo trình tự thời gian.
  • Phương pháp lôgic: Dùng để làm rõ bản chất phục vụ khai thác thuộc địa và quy luật vận động của hệ thống hạ tầng trong mối quan hệ với chính sách thuộc địa của Pháp ở Nam Kỳ và Đông Dương.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để thẩm định, đối chiếu, xâu chuỗi các số liệu, tài liệu văn bản hành chính từ các phông lưu trữ nhằm xác lập luận cứ khoa học.

Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

  • Kinh tế học và kinh tế phát triển: Xem xét mối quan hệ tác động giữa hạ tầng kỹ thuật với việc hình thành các vùng chuyên canh, cơ sở chế biến và lưu chuyển hàng hóa.
  • Xã hội học - kinh tế học: Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu xã hội, quan hệ cung - cầu, hoạt động sản xuất - phân phối - lưu thông dưới ảnh hưởng của hệ thống giao thông mới.

Nguồn tư liệu thực hiện luận án dựa trên hai khối chính:

  1. Tài liệu lưu trữ cấp 1 (văn bản hành chính gốc tiếng Pháp):
    • Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội): Công báo Nam Kỳ (Bulletin officiel de la Cochinchine - BOC), Công báo Đông Dương (Journal officiel de l’Indochine - JOI / JOIF), Phông Sở Tài chính Đông Dương, Niên giám Đông Dương.
    • Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh): Phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Công báo Nam Kỳ, bộ sưu tập bản đồ và hình ảnh thời kỳ Pháp.
  2. Các công trình nghiên cứu: Các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo và tài liệu của các hội nghề nghiệp (hàng không, cầu đường, ô tô) xuất bản trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất Nam Kỳ và hệ thống giao thông thời kỳ thuộc Pháp. Tác giả phân loại tư liệu thành các mảng: địa chí phong thổ thời Nguyễn, khảo cứu quá trình khẩn hoang và đào kênh, các công trình kinh tế - xã hội thời thuộc địa của học giả Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về đô thị hóa và giao thông vận tải, cùng nguồn tư liệu của các học giả người Pháp (hồi ký hành chính, nghiên cứu địa chí tỉnh, khảo sát quân sự và tài chính).

Qua việc điểm luận, tác giả khẳng định các công trình đi trước đã cung cấp nền tảng sử liệu quan trọng nhưng còn rời rạc, chưa làm rõ được bức tranh tổng thể về chính sách phát triển đồng bộ bốn phương thức giao thông và tác động kinh tế - xã hội mang tính hệ thống của mạng lưới này trên toàn lãnh thổ Nam Kỳ.

Chương 2. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ giai đoạn 1862 – 1918

Chương 2 trình bày diện mạo giao thông Nam Kỳ trước năm 1862 và quá trình thiết lập mạng lưới giao thông mới trong giai đoạn bình định cùng cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914).

Trước năm 1862, hệ thống giao thông Nam Kỳ mang tính chất tự nhiên và phục vụ nền kinh tế tự cấp tự túc. Về đường bộ, trục chính là đường thiên lý thời Nguyễn: phía Đông chạy từ cầu Son (Gia Định) qua Châu Thới, đò Ngựa, Long Thành, Bà Rịa, Đất Đỏ, Phước Bửu đến Hàm Tân ra Huế; phía Tây chạy dọc kênh Bảo Định, Tân Hương, Bến Lức về Gia Định. Đường bộ chủ yếu là đường đất nhỏ hẹp, phương tiện lưu thông bằng xe bò, xe trâu, xe ngựa. Về đường thủy, hệ thống kênh đào phục vụ thủy lợi và thông thương được khởi dựng từ thời chúa Nguyễn và các vua Nguyễn:

Tên kênh đào trước 1862 Thời gian khởi công / hoàn thành Người tổ chức / Ghi chú lịch sử
Kênh Bảo Định 1705 (đào lần đầu), 1819 (cải tạo) Nguyễn Cửu Vân tổ chức; Gia Long cho nạo vét mở rộng
Kênh Ruột Ngựa (Mã Trường Giang) 1772 Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm
Kênh Phố Xếp 1778 Người Hoa tổ chức; kênh ngắn nhất kết nối rạch Chợ Lớn
Kênh Rạch Chanh (Chanh Giang Tân Kênh) 1785 Đô đốc Nguyễn Trấn (quân Tây Sơn)
Kênh Thoại Hà (Tam Khê / kênh Núi Sập) 1818 Trấn thủ Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại)
Kênh An Thông (sông Sài Gòn / kênh Thông) 1819 Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý (thuộc kênh Ruột Ngựa)
Kênh Vĩnh Tế 1819 – 1824 Nguyễn Văn Nhơn khởi sự, Lê Văn Duyệt hoàn thành
Kênh Lợi Tế (kênh Trà Cú) 1829 Tổng trấn Lê Văn Duyệt dâng sớ tổ chức đào
Kênh Long An (sông Tân Châu / kênh Vĩnh An) 1843 – 1844 Đào thời vua Thiệu Trị

Sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1867), Pháp thiết lập bộ máy hành chính: chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính năm 1876 (Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xát), sau đổi thành 20 tỉnh vào năm 1900 cùng 3 thành phố (Sài Gòn, Chợ Lớn, Cap Saint Jacques). Chế độ cai trị chuyển từ ngạch võ quan sang ngạch văn quan từ năm 1879.

Chính sách khai thác kinh tế giai đoạn này tập trung vào nông nghiệp và thương mại xuất khẩu lúa gạo. Cảng Sài Gòn được mở năm 1860. Đến năm 1890 có 116 đồn điền người Âu; năm 1900 đạt 78.000 ha đồn điền Pháp ở Việt Nam. Ngành xay xát phát triển mạnh: nhà máy đầu tiên lập năm 1870 tại Chợ Lớn, đến năm 1885 có 200 xưởng xay xát; cuối thế kỷ XIX xuất hiện 2 nhà máy xay xát chạy hơi nước tại Sài Gòn – Chợ Lớn.

Quá trình xây dựng mạng lưới giao thông 1862 – 1918 ghi nhận sự xuất hiện của các phương thức mới:

  • Đường thủy: Sử dụng cơ giới để nạo vét và đào mới hàng loạt kênh rạch lớn tại miền Tây Nam Kỳ kết nối các vùng sản xuất lúa gạo với Sài Gòn - Chợ Lớn; ban hành các quy chế quản lý hàng hải, nâng cấp Cảng Sài Gòn thành cảng thương mại then chốt.
  • Đường bộ: Xây dựng các trục lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh lân cận và miền Tây. Đến năm 1895, Nam Kỳ đã quy hoạch 07 đoạn đường quốc lộ lớn; thay thế dần cầu gỗ bằng hệ thống cầu sắt và cầu bê tông kiên cố.
  • Đường sắt: Xây dựng tuyến đường sắt nội đô tramway Sài Gòn – Chợ Lớn vận hành năm 1881; xây dựng tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho (khởi công 1881, hoàn thành 1885) dài hơn 70 km kết nối Sài Gòn với vựa lúa miền Tây; tiếp đó triển khai tuyến Sài Gòn – Biên Hòa kết nối miền Đông.
  • Hàng không: Bắt đầu có sự xuất hiện thử nghiệm của máy bay quân sự vào thập niên thứ hai của thế kỷ XX, đặt cơ sở đầu tiên cho các bãi đáp máy bay.

Chương 3. Hệ thống giao thông ở Nam Kỳ giai đoạn 1919 – 1945

Chương 3 phân tích sự phát triển của hệ thống giao thông trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 – 1929) và giai đoạn 1930 – 1945.

Bối cảnh và chính sách: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư bản Pháp đẩy mạnh đầu tư vào Đông Dương. Giao thông vận tải Nam Kỳ chuyển biến theo hướng cơ giới hóa và mở rộng quy mô phục vụ thu hồi vốn nhanh từ xuất khẩu nông - khoáng sản.

Các lĩnh vực giao thông vận tải:

  • Đường bộ: Mạng lưới đường được nâng cấp, mở rộng và phân cấp thành đường thuộc địa, đường địa phương. Mặt đường được rải đá, trải nhựa để phục vụ vận tải cơ giới. Ô tô trở thành phương tiện vận tải quan trọng, số lượng xe hơi, xe khách, xe tải tại Nam Kỳ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng áp đảo so với Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
  • Đường thủy: Cảng Sài Gòn tiếp tục được mở rộng cầu bến, kho bãi, luồng lạch đón tàu trọng tải lớn. Hệ thống kênh đào miền Tây Nam Kỳ tiếp tục được nạo vét, hoàn chỉnh hệ thống thủy đạo phục vụ việc chuyên chở hàng triệu tấn lúa gạo xuất khẩu.
  • Đường sắt: Tối ưu hóa vận hành các tuyến đường sắt hiện hữu, hiện đại hóa đầu máy toa xe, kết nối mạng đường sắt Nam Kỳ vào tổng thể hệ thống hỏa xa Đông Dương.
  • Đường hàng không: Chính thức ra đời như một ngành vận tải mới. Chính quyền Pháp ban hành quy định tổ chức ngành hàng không tại Nam Kỳ và Đông Dương giai đoạn 1919 – 1939. Xây dựng và cải tạo sân bay Tân Sơn Nhất thành sân bay dân dụng và quân sự quốc tế của khu vực; thiết lập các tuyến bay nội địa (Sài Gòn đi Hà Nội, Đà Nẵng) và tuyến bay quốc tế kết nối với Pháp và các nước Đông Nam Á.

Giai đoạn 1940 – 1945: Dưới chế độ "cộng trị" của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hầu như không có công trình giao thông lớn nào được xây mới. Toàn bộ năng lực hạ tầng sẵn có bị khai thác triệt để nhằm phục vụ mục đích quân sự và vơ vét tài nguyên, lương thực (đặc biệt là vận chuyển gạo qua Cảng Sài Gòn sang Nhật), dẫn đến tình trạng hạ tầng xuống cấp do thiếu bảo dưỡng và bị chiến tranh tàn phá.

Chương 4. Đặc điểm, tác động của hệ thống giao thông đến đời sống kinh tế - xã hội ở Nam Kỳ (1862 - 1945)

Chương 4 đúc kết các đặc điểm cốt lõi và đánh giá toàn diện hệ quả của mạng lưới giao thông thuộc địa.

Đặc điểm phát triển của hệ thống giao thông Nam Kỳ:

  1. Tính đồng bộ và thích ứng điều kiện tự nhiên: Khai thác triệt để mạng lưới sông rạch tự nhiên kết hợp đào kênh nhân tạo tạo ra mạng lưới giao thông thủy lợi đa năng; kết hợp nhịp nhàng giữa vận tải thủy (chở nặng, đường dài) và đường bộ, đường sắt (kết nối nhanh các trung tâm).
  2. Tốc độ hiện đại hóa nhanh: Áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây (đầu máy hơi nước, ô tô cơ giới, tàu thủy cơ giới, máy bay, cầu sắt thép và bê tông cốt thép).
  3. Tính liên kết mạng lưới: Kết nối chặt chẽ các vùng sản xuất nông nghiệp (miền Tây) và đồn điền cao su (miền Đông) với trung tâm công nghiệp chế biến Chợ Lớn và đầu mối xuất cảng Sài Gòn; mở rộng liên kết toàn xứ Nam Kỳ với Campuchia, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và các tuyến hàng hải quốc tế.
  4. Tính chất thuộc địa: Quy hoạch giao thông ưu tiên phục vụ mục đích quân sự, đàn áp khởi nghĩa và phục vụ bóc lột kinh tế của tư bản chính quốc.

Tác động kinh tế:

  • Nông nghiệp: Việc đào kênh và mở đường thúc đẩy khẩn hoang hàng trăm ngàn hecta đất tại Tây Nam Kỳ, mở rộng diện tích trồng trọt lúa nước và các đồn điền cao su tại miền Đông Nam Kỳ (diện tích cao su đạt quy mô lớn giai đoạn 1920 – 1945).
  • Công nghiệp: Thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp chế biến xay xát lúa gạo tại Sài Gòn – Chợ Lớn, công nghiệp cơ khí sửa chữa tàu thuyền, toa xe và dệt bao bì.
  • Thương nghiệp: Cảng Sài Gòn trở thành một trong những thương cảng sầm uất tại khu vực, giá trị và khối lượng hàng hóa xuất khẩu (chủ yếu là gạo, ngô, cao su) gia tăng liên tục từ năm 1914 đến năm 1938.

Tác động xã hội:

  • Thúc đẩy đô thị hóa, biến Sài Gòn – Chợ Lớn thành trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của Đông Dương; hình thành nhiều thị tứ dọc theo các tuyến đường sắt, đường bộ và kênh đào.
  • Dẫn đến sự phân tầng xã hội sâu sắc: xuất hiện giai cấp công nhân giao thông (thợ hỏa xa, bốc xếp bến cảng, lái xe), giới chủ tư sản người Pháp, người Hoa và người Việt; đồng thời tạo ra dòng di dân từ các vùng nông thôn ra các trung tâm vận tải và đồn điền.

Bài học kinh nghiệm: Tác giả rút ra 3 bài học lịch sử cho quy hoạch giao thông Nam Bộ hiện nay: triệt để khai thác ưu thế tự nhiên để phát triển giao thông bền vững; nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại hóa hạ tầng; tận dụng lợi thế địa - chính trị của vùng đất và đô thị trung tâm Sài Gòn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:

Về mặt lý luận và khoa học:

  • Khai thác và hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu lưu trữ gốc tiếng Pháp cấp 1 tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I và Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (như các bộ Công báo Nam Kỳ, Công báo Đông Dương, sắc lệnh Toàn quyền, hồ sơ quy hoạch công chính), bảo đảm độ xác thực và khoa học cho các dữ liệu lịch sử.
  • Phục dựng một cách toàn diện và hoàn chỉnh tiến trình lịch sử giao thông Nam Kỳ suốt 83 năm (1862 – 1945) với đầy đủ cả 4 phương thức: thủy, bộ, sắt, hàng không; khắc phục tình trạng nghiên cứu phân tán, biệt lập của các công trình trước đó.
  • Phân tích và làm sáng tỏ bản chất chính sách thuộc địa của Pháp: việc xây dựng hệ thống giao thông trước hết và trên hết nhằm phục vụ yêu cầu bình định quân sự và vơ vét tài nguyên cho chính quốc, song về mặt khách quan đã để lại cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy nền kinh tế Nam Kỳ chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng giao thông Nam Bộ trong mối liên hệ lịch sử.
  • Đề xuất các bài học thực tiễn về quy hoạch mạng lưới hạ tầng vận tải: chú trọng giao thông thủy đa mục tiêu gắn với sông ngòi Nam Bộ, phát triển giao thông đa phương thức kết nối liên vùng, và tối ưu hóa vai trò đầu mối giao thương quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Luận án chủ yếu khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ của Pháp hiện đang bảo quản tại Việt Nam (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I và II); do điều kiện khách quan, tác giả chưa thể tiếp cận trực tiếp và khai thác trọn vẹn các hồ sơ lưu trữ liên quan tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại quốc gia Pháp (ANOM/CAOM). Đối với giai đoạn 1940 – 1945, do bối cảnh chiến tranh và sự xáo trộn hành chính thời kỳ Pháp - Nhật "cộng trị", nguồn tư liệu xây dựng mới rất hạn chế, nội dung phản ánh chủ yếu là hoạt động khai thác năng lực hạ tầng sẵn có.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khai thác bổ sung các tài liệu lưu trữ tại Pháp để làm rõ hơn các dự án đầu tư tài chính và kỹ thuật chi tiết của Bộ Thuộc địa Pháp dành cho công trình công chính Nam Kỳ.
  • Mở rộng nghiên cứu sâu hơn về vai trò và sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân bản xứ (người Việt và người Hoa) trong các ngành vận tải đường bộ, vận tải thủy nội địa thời thuộc Pháp.
  • Đi sâu đánh giá lượng hóa chi tiết tác động kinh tế giao thông đến chi phí vận chuyển nông sản từng tiểu vùng ở Nam Kỳ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Lịch sử Đô thị và Văn hóa học Nam Bộ.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quy hoạch hạ tầng giao thông vận tải, kỹ thuật cầu đường, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội vùng Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm:

  • Toàn bộ Chương 2 và Chương 3: Nơi tập hợp đầy đủ dữ liệu lịch sử, thời gian ban hành các văn bản pháp quy, mốc xây dựng, thông số kỹ thuật và bản đồ quy hoạch của từng tuyến đường sắt, đường bộ, kênh đào và sân bay Tân Sơn Nhất.
  • Phần phân tích kinh nghiệm lịch sử ở Chương 4: Đưa ra các gợi ý cụ thể về việc kết hợp giao thông thủy với thoát lũ, dẫn nước nông nghiệp và giải pháp kết nối liên vùng cho đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng tại Nam Kỳ và Đông Dương là tuyến nào, thời gian triển khai ra sao?

Đó là tuyến đường sắt nội đô tramway Sài Gòn – Chợ Lớn (vận hành năm 1881) và tuyến đường sắt liên tỉnh Sài Gòn – Mỹ Tho. Tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho dài hơn 70 km, được thực dân Pháp xúc tiến đầu tư xây dựng trong giai đoạn 1880 – 1883/1885 nhằm kết nối trung tâm xuất khẩu Chợ Lớn - Sài Gòn với trung tâm sản xuất lúa gạo của vùng Tây Nam Kỳ.

2. Chính quyền thực dân Pháp đã tổ chức lại bộ máy hành chính Nam Kỳ như thế nào để phục vụ quản lý và xây dựng hạ tầng?

Năm 1876, Pháp bãi bỏ hệ thống hành chính triều Nguyễn, chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xát. Đến đầu thế kỷ XX, các hạt hành chính đổi thành 20 tỉnh (4 tỉnh miền Đông, 9 tỉnh miền Trung, 7 tỉnh miền Tây) cùng 3 thành phố: Sài Gòn (thành phố cấp 1), Chợ Lớn (thành phố cấp 2) và Cap Saint Jacques. Bộ máy cai trị chuyển dần từ chế độ võ quan đô đốc sang chế độ thống đốc văn quan từ năm 1879, thiết lập Sở Công chính để chuyên trách quy hoạch và thi công cầu đường, bến cảng, kênh đào.

3. Trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, hệ thống kênh đào tại Tây Nam Kỳ đã có những công trình quan trọng nào?

Hệ thống kênh đào thời Nguyễn để lại rất phong phú, giữ vai trò thủy lợi và giao thương: kênh Bảo Định (đào 1705, cải tạo 1819), kênh Ruột Ngựa (1772), kênh Phố Xếp (1778), kênh Rạch Chanh (1785), kênh Thoại Hà (1818), kênh An Thông (1819), kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824), kênh Lợi Tế (1829), kênh Long An/Vĩnh An (1843 – 1844). Người Pháp đã kế thừa mạng lưới này và đưa máy móc cơ giới vào nạo vét mở rộng.

4. Mạng lưới giao thông mới tác động như thế nào đến công nghiệp chế biến lúa gạo tại Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX?

Hệ thống kênh đào và đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho giúp vận chuyển nhanh chóng lúa thóc từ miền Tây về Chợ Lớn. Năm 1870, nhà máy xay xát đầu tiên ra đời tại Chợ Lớn; đến năm 1885 toàn xứ đã có 200 xưởng xay xát. Cuối thế kỷ XIX, tại Sài Gòn – Chợ Lớn xuất hiện 2 nhà máy xay xát chạy bằng hơi nước hiện đại đầu tiên của Việt Nam, kéo theo sự phát triển của ngành cơ khí sửa chữa máy móc tàu bè và công nghiệp sản xuất bao bố đựng gạo.

5. Hoạt động giao thông vận tải ở Nam Kỳ trong giai đoạn 1940 – 1945 có đặc điểm gì?

Từ năm 1940 đến tháng 3/1945, thực dân Pháp và phát xít Nhật thực hiện cơ chế "cộng trị". Trong giai đoạn này hầu như không có công trình giao thông nào được đầu tư xây mới. Toàn bộ hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển và phương tiện sẵn có bị trưng dụng phục vụ quân sự và vận chuyển tài nguyên, trong đó có hoạt động tập trung chở lúa gạo Nam Kỳ qua Cảng Sài Gòn xuất sang Nhật Bản, phục vụ chiến tranh Thái Bình Dương.

Kết luận

Luận án Quá trình hình thành và phát triển hệ thống giao thông ở Nam Kỳ (1862 – 1945) của Bành Thị Hằng Tâm là công trình nghiên cứu sử học chuyên sâu, phục dựng một cách có hệ thống bức tranh phát triển của bốn loại hình giao thông tại Nam Kỳ thời thuộc Pháp. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ hành chính gốc bằng tiếng Pháp, công trình đã làm rõ bản chất phục vụ mục đích khai thác thuộc địa của chính quyền thực dân, đồng thời đánh giá khách quan những chuyển biến kinh tế - xã hội mà hệ thống hạ tầng kỹ thuật này mang lại. Đây là công trình có giá trị học thuật cao, cung cấp nhiều bài học lịch sử hữu ích cho công tác quy hoạch và phát triển giao thông vận tải vùng Nam Bộ hiện nay.