Chương 1 trình bày cơ sở lý luận, trong đó phân tích các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải. Đồng thời, tổng quan các nghiên cứu về tác động của hạ tầng giao thông vận tải tới tăng trưởng kinh tế. Từ đó rút ra khung phân tích của luận án và kết luận. Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng kinh tế và vốn đầu tư Theo Niên giám Thống kê Việt Nam 2019: “Tổng sản phẩm trong nước là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định”.
Thông thường khoảng thời gian được xét là một năm tài chính. Có 2 dạng GDP cần phân biệt là GDP danh nghĩa (GDP hiện hành) và GDP thực (GDP so sánh). GDP danh nghĩa tính theo giá hàng hóa và dịch vụ trong từng thời kỳ tương ứng. GDP so sánh tính theo giá cố định tại 1 năm cơ sở.
Theo đó, có 3 phương pháp tính: “Phương pháp sản xuất: Tổng sản phẩm trong nước bằng tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản của tất cả các ngành kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. Giá trị tăng thêm là giá trị hàng hóa và dịch vụ mới sáng tạo ra của các ngành kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Giá trị tăng thêm là một bộ phận của giá trị sản xuất, bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian. Giá trị tăng thêm được tính theo giá hiện hành và giá so sánh.
Giá cơ bản là số tiền người sản xuất nhận được do bán hàng hóa hay dịch vụ sản xuất ra, trừ đi thuế đánh vào sản phẩm, cộng với trợ cấp sản phẩm. Giá cơ bản không bao gồm phí vận tải và phí thương mại không do người sản xuất trả khi bán hàng; Giá sản xuất là số tiền người sản xuất nhận được do bán hàng hóa hay dịch vụ sản xuất ra trừ đi thuế VAT được khấu trừ hay thuế được khấu trừ tương tự. Giá sản xuất không bao gồm phí vận tải và phí thương mại không do người sản xuất chi trả khi bán hàng; Giá trị tăng thêm được tính theo giá cơ bản. Tổng sản phẩm trong nước luôn là giá sử dụng cuối cùng.
7 Phương pháp thu nhập: Tổng sản phẩm trong nước bằng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc. Theo phương pháp này, tổng sản phẩm trong nước gồm 4 yếu tố: (1) Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật); (2) Thuế sản xuất; (3) Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất; (4) Thặng dư sản xuất. Phương pháp sử dụng: Tổng sản phẩm trong nước bằng tổng của 3 yếu tố: Tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư và Nhà nước; tích lũy tài sản (cố định, lưu động và quý hiếm) và chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ”. Trong phạm vi cấp tỉnh, theo Niên giám Thống kê 63 tỉnh/thành: “Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất thực hiện bởi các đơn vị sản xuất thường trú trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Trên phạm vi cấp tỉnh, GRDP được tính theo phương pháp sản xuất. Theo đó, GRDP bằng tổng giá trị tăng thêm theo giá cơ bản của tất cả các hoạt động kinh tế cộng với thuế sản phẩm trừ đi trợ cấp sản phẩm”. GRDP cũng được tính theo giá hiện hành và giá so sánh, theo đó: “GRDP theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua các năm, dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trên địa bàn, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất”. Như vậy, GRDP chỉ tính theo phương pháp sản xuất.
Thông thường, để đánh giá xu hướng thay đổi và các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, các nghiên cứu dùng GRDP so sánh. Tăng trưởng kinh tế (Economic Growth) có thể được đề cập dưới 2 khía cạnh: Tính toán theo sự thay đổi của GDP/GRDP hoặc tính toán theo sự thay đổi của GDP bình quân đầu người giữa các thời kỳ. Phát triển kinh tế (Economic Development) mang nội dung nội hàm rộng hơn. Theo đó, phát triển kinh tế là sự hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường và thể chế.
Phát triển kinh tế không chỉ thay đổi về số lượng khi nói đến vị thế kinh tế của đất nước mà còn là thay đổi về chất (thay đổi cơ cấu kinh tế, sự xuất hiện của các ngành nghề mới, việc làm mới, v. Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, dẫn đến sự thỏa mãn tốt hơn và đầy đủ hơn về mọi nhu cầu của con người, đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc cao hơn. Như vậy tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng của phát triển kinh tế. Theo Nghị định số 97/2016/NĐ - CP của Chính phủ quy định các chỉ tiêu thống kê Quốc gia, ban hành ngày 01/7/2016: 8 "Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là toàn bộ tiền vốn bỏ ra (chi tiêu) để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định".
Vốn đầu tư được chia theo các loại hình khác nhau tùy vào nguồn vốn hoặc mục đích sử dụng. Tương tự GDP, vốn đầu tư cũng có 2 cách tiếp cận là vốn đầu tư giá hiện hành và vốn đầu tư giá so sánh theo 1 năm tài khóa cơ sở. Một số khái niệm và đặc điểm chung về hạ tầng giao thông vận tải Giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt vì nó không trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất mà chỉ góp phần lưu thông hàng hóa. Đối tượng lưu thông là con người hoặc những của cải, vật chất do con người tạo ra.
Giao thông vận tải bao gồm kết cấu hạ tầng giao thông, các phương tiện giao thông và các hoạt động giao thông vận tải. Theo các tài liệu về kỹ thuật: Hạ tầng là hệ thống các công trình vật chất, kỹ thuật được tổ chức thành các đơn vị sản xuất và dịch vụ, các công trình sự nghiệp có chức năng đảm bảo sự lưu thông con người, của cải, vật chất, thông tin nhằm phục vụ nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội. Đặc trưng của hạ tầng là có tính thống nhất và đồng bộ, có sự gắn kết giữa các cấu thành của hạ tầng tạo thành hệ thống vững chắc, đảm bảo phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống. Đặc trưng thứ hai của hạ tầng là có các công trình kết cấu với quy mô lớn, chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trong phạm vi cả quốc gia.
Theo đó: “Hạ tầng công cộng phi quân sự bao gồm: Hạ tầng giao thông; Hạ tầng xã hội (các công trình, thiết bị cho giáo dục, y tế, tòa án, văn nghệ, thể thao,…); Hạ tầng bưu chính viễn thông (đài phát thanh, truyền hình, cáp viễn thông, mạng lưới vệ tinh); Hạ tầng cung cấp tiện ích công cộng khác (đường dây tải điện, khí đốt, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống thu gom rác thải)”. Như vậy hạ tầng giao thông là hệ thống các công trình vật chất, kỹ thuật và các phương tiện mang nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế. Hạ tầng giao thông vận tải được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau phụ thuộc vào bản chất hoặc phương pháp quản lý. Phân loại theo tính chất hạ tầng, có thể chia hạ tầng giao thông vận tải bởi các loại hình sau: 9 “Hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm hệ thống các loại đường và hệ thống các loại cầu vượt, cầu chui,… cùng các cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc vận chuyển trên bộ như kho, bến bãi đỗ xe, các loại tín hiệu, biển báo giao thông, đèn đường chiếu sáng,… Hạ tầng giao thông đường sắt bao gồm các tuyến đường ray, cầu đường sắt, đường hầm đường sắt, các nhà ga và hệ thống tín hiệu giao thông đường sắt.
Hạ tầng giao thông đường thủy bao gồm các cảng sông, bờ kè,… phục vụ cho khai thác vận tải đường sông. Hạ tầng giao thông đường biển bao gồm các cảng biển, cảng nước sâu, cảng container và các công trình phục vụ vận tải đường biển như hoa đăng, hải đăng,… Hạ tầng giao thông hàng không là những sân bay, đường băng,…” Phân loại theo khu vực, có thể chia hạ tầng giao thông vận tải bởi các loại hình sau: “Hạ tầng giao thông đô thị bao gồm hai bộ phận: Giao thông nội đô và giao thông đối ngoại. Giao thông đối ngoại bao gồm các nút giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng không, nối liền hệ thống giao thông nội đô với hệ thống giao thông quốc gia, giao thông quốc tế. Giao thông nội đô bao gồm các đường giao thông nằm trong phạm vi địa giới hành chính của địa phương.
Hạ tầng giao thông nông thôn chủ yếu bao gồm các đường bộ là đường liên xã, liên thôn và mạng lưới giao thông nội đồng phục vụ cho sản xuất nông ngư nghiệp. Hạ tầng giao thông nông thôn là khâu đầu cũng như là khâu cuối của quá trình vận chuyển phục vụ sản xuất hàng nông sản và các sản phẩm sản xuất, tiêu dùng khác của khu vực nông thôn”. Kết cấu hạ tầng giao thông có các đặc điểm chung: Tính hệ thống, đồng bộ: Cơ sở hạ tầng giao thông là một hệ thống phức tạp phân bố rộng trong phạm vi cả nước, có mức độ ảnh hưởng từ ít đến nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Tính hợp lý của các công trình này đem lại sự thay đổi lớn trong cảnh quan và có tác động tích cực đến đời sống sinh hoạt của người dân.
Việc quy hoạch tổng thể, phối kết hợp giữa các bộ phận một cách đồng bộ sẽ tăng tối đa công năng sử dụng của hạ tầng nhằm làm giảm tối đa chi phí vận chuyển, di chuyển. Tính định hướng: Các công trình cơ sở hạ tầng giao thông được xây dựng dựa trên quy hoạch phát triển vùng. Ngược lại, sự phát triển của cơ sở hạ tầng về quy mô 10 và chất lượng sẽ định hướng cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vật chất cho phát triển kinh tế - xã hội.