Luận án TS. Nguyễn Thị Hà Phương: Dạy học thống kê cho giáo viên toán tương lai

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai để dạy học thống kê, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

267
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kiến thức giáo viên toán tương lai

Phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Đặc biệt, việc dạy học thống kê đòi hỏi giáo viên không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn cần có kỹ năng sư phạm phù hợp. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kiến thức cho giáo viên toán tương lai, từ đó đưa ra những giải pháp hiệu quả.

1.1. Tầm quan trọng của kiến thức giáo viên trong dạy học thống kê

Kiến thức của giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học. Đặc biệt trong dạy học thống kê, giáo viên cần có kiến thức sâu rộng về các khái niệm thống kê cơ bản và cách áp dụng chúng trong thực tiễn.

1.2. Các mô hình kiến thức giáo viên hiện nay

Nhiều mô hình kiến thức giáo viên đã được đề xuất, trong đó mô hình MKT (Mathematical Knowledge for Teaching) của Ball và cộng sự là một trong những mô hình nổi bật. Mô hình này giúp phân tích các kiểu kiến thức cần thiết cho giáo viên trong việc dạy học toán.

II. Vấn đề và thách thức trong dạy học thống kê

Dạy học thống kê gặp nhiều thách thức, từ việc thiếu kiến thức chuyên môn của giáo viên đến việc áp dụng các phương pháp dạy học hiệu quả. Những vấn đề này cần được giải quyết để nâng cao chất lượng dạy học thống kê trong trường học.

2.1. Thiếu hụt kiến thức chuyên môn của giáo viên

Nhiều giáo viên toán tương lai chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về thống kê, dẫn đến việc giảng dạy không hiệu quả. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu của học sinh.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng phương pháp dạy học

Giáo viên thường gặp khó khăn trong việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp với nội dung thống kê. Điều này cần được nghiên cứu và cải thiện để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

III. Phương pháp phát triển kiến thức cho giáo viên toán tương lai

Để phát triển kiến thức cho giáo viên toán tương lai, cần áp dụng các phương pháp đào tạo hiệu quả. Nghiên cứu bài học (NCBH) là một trong những phương pháp được khuyến khích sử dụng trong đào tạo giáo viên.

3.1. Nghiên cứu bài học như một phương pháp đào tạo

Nghiên cứu bài học giúp giáo viên tương lai có cơ hội thực hành và phản ánh về quá trình dạy học. Phương pháp này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng sư phạm.

3.2. Đào tạo theo ngữ cảnh thực tế

Đào tạo giáo viên cần được thực hiện trong ngữ cảnh thực tế, nơi giáo viên có thể áp dụng kiến thức vào tình huống cụ thể. Điều này giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách dạy học thống kê.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phát triển kiến thức cho giáo viên toán tương lai thông qua NCBH đã mang lại nhiều lợi ích. Giáo viên không chỉ nâng cao kiến thức mà còn cải thiện kỹ năng dạy học thống kê.

4.1. Kết quả từ thực nghiệm NCBH

Các thực nghiệm cho thấy giáo viên đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc áp dụng kiến thức thống kê vào giảng dạy. Điều này chứng tỏ hiệu quả của phương pháp NCBH trong đào tạo giáo viên.

4.2. Ứng dụng kiến thức vào thực tiễn dạy học

Giáo viên đã áp dụng kiến thức thống kê vào các bài giảng thực tế, giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm thống kê và cách sử dụng chúng trong cuộc sống hàng ngày.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Việc phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ cho giáo viên toán tương lai là một quá trình liên tục. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để cải thiện chất lượng đào tạo giáo viên, đặc biệt trong lĩnh vực dạy học thống kê.

5.1. Đề xuất cải tiến chương trình đào tạo

Cần cải tiến chương trình đào tạo giáo viên để tích hợp kiến thức thống kê một cách hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp giáo viên có đủ kiến thức và kỹ năng để dạy học thống kê.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tiếp tục tập trung vào việc phát triển các phương pháp dạy học mới và hiệu quả hơn cho giáo viên toán tương lai, nhằm nâng cao chất lượng dạy học thống kê trong các trường học.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai để dạy học thống kê

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi trình bày các nghiên cứu liên quan đến các kiểu kiến thức toán để dạy học là bản chất của năng lực nghề nghiệp của GV toán, đặc biệt là các nghiên cứu dựa trên mô hình của Ball và cộng sự (2008). Đi sâu hơn nữa, việc tổng quan các nghiên cứu về kiến thức của GV để dạy học thống kê cho chúng tôi hiểu rõ hơn các đặc trưng của các kiểu kiến thức khi áp dụng trong dạy học thống kê. Bên cạnh đó chúng tôi phân tích nội dung của chủ đề thống kê ở phổ thông cũng như trong chương trình đào tạo GV toán, làm cơ sở để phát triển, điều chỉnh mô hình kiến thức toán để dạy học của Ball và cộng sự (2008) vào ngữ cảnh dạy học thống kê. Tổng quan nghiên cứu về kiến thức của giáo viên để dạy học Nghiên cứu về kiến thức của GV để dạy học là một lĩnh vực quan trọng trong đào tạo và phát triển nghiệp vụ cho GV.

Kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm đã được coi là những thành phần cốt lõi của năng lực GV (Ball, Thames & Phelps, 2008; Shulman, 1987). Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm tác động đến chất lượng giảng dạy và sự tiến bộ của học sinh (HS) (Fennema & Franke, 1992; Ball, Thames & Phelps, 2008; Hill, Ball & Schilling, 2008; Baumert et al. Trong suốt quá trình nghiên cứu giáo dục, các nhà nghiên cứu đã làm việc để mô tả kiến thức mà GV cần để giảng dạy cũng như cách GV có thể phát triển loại kiến thức này. Ở phần tiếp theo, chúng tôi trình bày một số công trình của các nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trên thế giới như công trình của Shulman (1986), Fennema và Franke (1992), Rowland và cộng sự (2003, 2005, 2007), Ball và cộng sự (2008) là cơ sở nền tảng kiến thức cho nghiên cứu của chúng tôi.

Nghiên cứu của Shulman Trong lĩnh vực này, Shulman (1986) được xem là nhà nghiên cứu tiên phong mở đường cho các nghiên cứu về kiến thức của GV cần thiết cho việc giảng dạy. Shulman cho rằng trước đó có ít nghiên cứu liên quan đến vai trò của kiến thức nội dung của GV ảnh hưởng đến việc dạy học của họ, trọng tâm của các nghiên cứu trước đây chỉ xoay quanh các tiến trình, cách thức dạy học mà bỏ lỡ các nghiên cứu về kiến thức nội dung giảng dạy. Chương trình nghiên cứu của Shulman đã cho thấy kiến thức của GV là yếu 4 tố rất quan trọng ảnh hưởng nhiều đến thực hành dạy học của họ và các hình thức hành vi của GV thúc đẩy hiệu quả đến thành tích học tập của HS (Shulman, 1986). Những câu hỏi nghiên cứu như GV quyết định về những nội dung cần dạy như thế nào? Làm thế nào để biểu đạt những nội dung cần dạy đó? Làm thế nào để giải quyết những sai lầm của HS về nội dung toán học nào đó?.

là trọng tâm chú ý của Shulman và những nghiên cứu hướng đến các kiểu kiến thức cần có của GV. Theo Petrou và Goulding (2011), Shulman đã đề xuất phân loại các kiểu kiến thức của GV thành bảy loại như sau: kiến thức sư phạm tổng quát, kiến thức về đặc điểm của người học, kiến thức về ngữ cảnh dạy học, kiến thức về mục tiêu và giá trị giáo dục, kiến thức nội dung môn học, kiến thức nội dung sư phạm và kiến thức chương trình. Tuy nhiên, Shulman chỉ tập trung vào kiến thức liên quan trực tiếp đến nội dung toán học được dạy. Vì vậy, bốn kiểu kiến thức đầu tiên đề cập đến các khía cạnh tổng quát của kiến thức của GV và đó không phải là trọng tâm của các nghiên cứu của Shulman.

Ba kiểu kiến thức còn lại, là kiến thức nội dung môn học, kiến thức chương trình và kiến thức nội dung sư phạm liên quan trực tiếp đến những khía cạnh nội dung toán của kiến thức GV, là những vấn đề còn chưa được chú ý đúng mức trong nghiên cứu về dạy học. Trong nghiên cứu của mình, Shulman đã tập trung phân tích ba kiểu kiến thức: • Kiến thức nội dung môn học (Subject Matter Knowledge) bao gồm kiến thức về các chủ đề dạy học của môn học và cách thức tổ chức, sắp xếp cấu trúc của nó. GV không chỉ cần hiểu rằng một cái gì đó là như thế nào mà cần phải hiểu rõ thêm tại sao nó lại như vậy. Shulman cho rằng kiến thức nội dung môn học phải vượt lên trên kiến thức về những khái niệm hay sự kiện của một lĩnh vực.

• Kiến thức chương trình (Curricular Knowledge) là kiến thức của người GV hiểu biết đầy đủ về chương trình giảng dạy môn học và chủ đề cụ thể ở cấp độ nhất định, sự đa dạng của các tài liệu giảng dạy liên quan đến các chương trình đó, kiến thức về những hướng dẫn giảng dạy, về sách giáo khoa, cũng như kiến thức về những chủ đề và những cách thức trong đó những chủ đề này được trình bày, hay những lưu ý cho việc sử dụng các chương trình hoặc tài liệu chương trình cụ thể trong các trường hợp cụ thể. Mặt khác, có kiến thức về chương trình tốt người GV dựa vào đó xây dựng những công cụ giảng dạy phù hợp, đồng thời đây cũng là quy chuẩn giúp GV đánh giá mức độ phù hợp thành tích học tập của HS. 5 • Kiến thức nội dung sư phạm (Pedagogical Content Knowledge) là kiểu kiến thức có tính mới và có ảnh hưởng nhất. Shulman (1986) quan niệm kiến thức nội dung sư phạm là tập hợp của kiến thức về nội dung và kiến thức về sư phạm đặc thù cho việc dạy học.

Kiến thức nội dung sư phạm bao gồm những dạng biểu diễn đặc thù cho nội dung toán, những ví dụ và ứng dụng mà GV sử dụng để làm cho HS dễ hiểu hơn, cùng với những chiến lược dạy học để giúp HS vượt qua khó khăn. Với khái niệm kiến thức nội dung sư phạm, Shulman muốn nhấn mạnh không phải chỉ đơn thuần là kiến thức nội dung, cũng không đơn thuần là kiến thức sư phạm, mà phải là một sự kết hợp của hai kiểu kiến thức này trong dạy học. Tính hữu dụng của kiến thức nội dung sư phạm được thể hiện qua việc ngay khi được Shulman (1986) giới thiệu, nó đã được nhiều nhà nghiên cứu thích nghi, điều chỉnh, sử dụng, phát biểu lại khái niệm này. Chẳng hạn, Meredith (1995) cho rằng cần một khung nội dung rộng hơn, mở rộng của kiến thức nội dung sư phạm là cần thiết.

Cho dù công trình của Shulman (1986) là mang tính tiên phong và ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực nghiên cứu kiến thức của GV, nhiều nhà nghiên cứu sau này đã cho rằng sự phân loại các kiểu kiến thức GV của Shulman (1986) là chưa đủ rõ và đủ để có thể thực hành trong nghiên cứu (Zhang & Stephens, 2013). Theo Ball và cộng sự (2008), sự phân biệt giữa khái niệm kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm theo Shulman thường chưa được rõ ràng. Hơn nữa, Shulman chưa chú trọng đến sự tương tác giữa các kiểu kiến thức này (Hashweh, 2005). Nghiên cứu của Fennema và Franke Mô hình của Fennema & Franke (1992) được xây dựng nhằm sửa đổi những hạn chế trong nghiên cứu của Shulman (1986).

Fennema và Franke (1992) cho rằng sự phân loại của Shulman (1986) chưa chú trọng đến bản chất động của kiến thức, mà kiến thức của GV thường phát triển qua những tương tác trong lớp học với HS liên quan đến nội dung toán học hướng đến. Bằng cách phân loại các tình huống từ các lớp học nơi kiến thức toán học xuất hiện trong giảng dạy, họ đề xuất một mô hình kiến thức cho GV được sử dụng để mô tả những gì GV cần trong giảng dạy toán học. Mô hình quan niệm về kiến thức GV của hai tác giả này dựa trên sự phân loại của Shulman (1986), nhưng tập trung hơn vào khía cạnh tương tác và động của bản chất kiến thức của GV. Họ cho rằng kiến thức toán học để giảng dạy bao gồm bốn thành phần: kiến thức về nội dung, kiến thức về sư phạm, kiến thức về nhận thức của HS và niềm tin của GV.

Mô hình kiến thức của giáo viên theo Fennema và Franke (1992) Mô hình của Fennema và Franke (1992) tập trung vào kiến thức của GV khi nó xảy ra trong bối cảnh của lớp học. Trọng tâm trong quá trình hình thành khái niệm của họ nhấn mạnh đến kiến thức có bản chất tương tác và trong một bối cảnh nhất định, kiến thức về nội dung của GV có liên quan đến kiến thức về sư phạm, nhận thức của HS và kết hợp với niềm tin để tạo ra một bộ kiến thức xác định thực hành giảng dạy và hành vi của GV trong lớp học. Hơn nữa, họ cho rằng kiến thức có tính chất động và cho rằng dạy học là một quá trình trong đó GV có thể thay đổi kiến thức hiện có và tạo ra kiến thức mới. Kiến thức nội dung toán của GV theo Fennema và Franke (1992, trang 162) bao gồm: “kiến thức của GV về các khái niệm, quy trình và quá trình giải quyết vấn đề trong lĩnh vực mà họ giảng dạy.

Nó bao gồm kiến thức về các khái niệm cơ bản của các quy trình, sự liên quan lẫn nhau của các khái niệm và cách các khái niệm và quy trình này được sử dụng trong các dạng giải quyết vấn đề khác nhau” Thành phần kiến thức sư phạm đề cập đến “kiến thức của GV về các quy trình giảng dạy như các chiến lược hiệu quả để lập kế hoạch, các thói quen trong lớp học, kĩ thuật quản lí hành vi, quy trình tổ chức lớp học và kĩ thuật tạo động lực” (Fennema & Franke, 1992, trang 162). Từ sự hình thành khái niệm của Fennema và Franke, có thể nói rằng thành phần kiến thức sư phạm có liên quan đến phạm trù kiến thức sư phạm chung của Shulman, bao gồm các nguyên tắc và chiến lược rộng rãi về quản lí lớp học. Hơn nữa, khi xem xét kiến thức sư phạm của GV, họ thảo luận về kiến thức của GV về biểu diễn theo cách tương tự như cách hình thành khái niệm của Shulman, theo đó việc sử dụng biểu diễn là trọng tâm trong giảng dạy (Petrou & Goulding, 2011).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ