chương 1 “CNHT Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”. 10 - Trương Thị Chí Bình “Phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”[35]. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngành CNHT nói chung và ngành CNHT ngành điện tử gia dụng nói riêng. Thực trạng và triển vọng phát triển ngành CNHT điện tử gia dụng ở VN cũng như đã đưa ra giải pháp phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng ở VN.
Phạm vi nghiên cứu luận án chỉ dừng lại ở ngành CNHT điện tử gia dụng và các ngành như cơ khí, nhựa, xe máy, ô tô. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài - Mirian Picinini Méxas , Osvaldo Luiz Gonçalves Quelhas, Helder Gomes Costa, “Prioritization of enterprise resource planning systems criteria: Focusing on construction industry” [65]. Nhóm tác giả sử dụng hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning). Đầu tiên, dựa trên việc xem xét các tài liệu liên quan đến việc thực hiện và áp dụng các mô hình đa tiêu chuẩn đánh giá của các hệ thống ERP, tập hợp các tiêu chí lựa chọn được đề xuất cho các ứng dụng ERP cho các công ty trong ngành XDDD ở Brazil, nơi có sự thiếu hụt của loại hệ thống này.
Sau khi xác nhận của các tiêu chí này bởi một nhóm các thành viên công nghệ thông tin, các chuyên gia trong ngành XDDD, 79 người trả lời chủ yếu từ ngành CNXD và công nghệ thông tin tham gia vào một nghiên cứu thực địa để kiểm tra nhận thức của họ về tầm quan trọng của các tiêu chí này. Nghiên cứu cho thấy rằng, các tiêu chí kinh doanh và phần mềm tài chính là quan trọng nhất đối với người trả lời. Ngoài ra, tầm quan trọng của từng nhóm tiêu chí cũng được đánh giá và để hỗ trợ các nhà sản xuất quyết định khi lựa chọn hệ thống ERP. Camanho, “Company failure prediction in the construction industry”[61].
Bài viết này đề xuất mô hình mới để dự đoán sự thất bại của công ty trong ngành công nghiệp xây dựng. Mô hình bao gồm ba khía cạnh sáng tạo lớn. Việc sử dụng các biến chiến lược phản ánh đặc trưng quan trọng của các công ty XD, đó là lý do quan trọng để giải thích sự thất bại của công ty. Đề xuất mô hình đã được thực nghiệm sử dụng tất cả các nhà thầu ở Bồ Đào Nha hoạt động trong năm 2009.
- Zahir Irani, Muhammad Mustafa Kamal “Intelligent Systems Research in the Construction Industry”[74]. Với sự phức tạp ngày càng tăng của các vấn đề 11 trong ngành công nghiệp xây dựng. Do đó, mục đích nghiên cứu của bài viết này là để phân tích hệ thống thông minh trong CNXD nhằm tìm kiếm giải pháp thích hợp. Vì vậy, để theo dõi các ứng dụng của hệ thống thông minh để nghiên cứu trong ngành CNXD, một cách tiếp cận hồ sơ được sử dụng để phân tích 514 ấn phẩm được chiết xuất từ các cơ sở dữ liệu Scopus.
Giá trị chính và độc đáo của bài viết này nhằm phân tích và biên soạn tài liệu xuất bản hiện có bằng cách kiểm tra các biến (ấn phẩm hàng năm, vị trí địa lý của mỗi ấn phẩm…). Những đóng góp của bài viết này cung cấp một sự so sánh giữa hai thập kỷ và cung cấp cái nhìn sâu vào các xu hướng sử dụng các loại hệ thống thông minh khác nhau trong ngành CNXD. Các phân tích trong bài viết đã xác định được nghiên cứu hệ thống thông minh đã đóng góp vào sự phát triển và tích lũy của cải tiến trí tuệ đối với các khu vực hệ thống thông minh trong ngành CNXD.S Tsui, “Green construction assessment forenvironmental management in the construction industry of Hong Kong”[58]. Đánh giá môi trường (EA), một công cụ để xem xét, theo dõi, kiểm tra và đánh giá hiệu quả môi trường cho ngành CNXD đã được ủng hộ.
Mặc dù có rất nhiều các công cụ đánh giá môi trường, hầu hết trong số họ không được thiết kế XD. Bài viết này đề xuất một hệ thống gọi là “Đánh giá công trình xanh”(GCA) cho XD. Hai loại chỉ số môi trường được chấp nhận: Chỉ số hoạt động quản lý (MPIs) và các chỉ số hiệu suất hoạt động (OPIS). Sử dụng một hệ thống quyết định đa tiêu chuẩn, hệ thống phi kết cấu mờ hỗ trợ quyết định (NSFDSS), các trọng số cho mỗi tiêu chí và ít yếu tố này được phát triển, sản xuất là một thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động môi trường đối với hoạt động XD.
-Nannan Wang, “The role of the construction industry in China's sustainable urban development”[67]. Ngành XD là một ngành tiêu hao năng lượng lớn và lượng carbon phát thải lớn. Mặc dù Chính phủ Trung Quốc đã có chính sách phát triển bền vững cho ngành XD. Nhưng trong những năm gần đây, ngành CNXDTrung Quốc đã dường như đáp ứng chậm hơn so với các ngành khác.
Kết quả là ngành CNXD Trung Quốc bị cạnh tranh thấp trên thị trường, thiếu kỹ năng 12 toàn cầu và thiếu sáng kiến hướng tới đổi mới công nghệ. Nghiên cứu này xem xét vai trò của ngành CNXD phát triển đô thị bền vững của Trung Quốc. Các tác động xã hội, kinh tế và môi trường của ngành XD ở Trung Quốc, kết quả cho thấy rằng việc XD ở Trung Quốc đóng cả hai vai trò tích cực và tiêu cực trong phát triển đô thị bền vững của Trung Quốc. Gợi ý bao gồm thiết lập các biện pháp tiêu chuẩn, đổi mới kỹ thuật và khuyến khích sự hợp tác giữa các ngành CNXD và giáo dục…sẽ góp phần vào sự phát triển tương lai của ngành CNXD ở Trung Quốc.
- Năm 1990, “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã được M. Porter nhắc đến trong lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”(The competitive advantage of nations, Harvard business review 1990)[73].Trong đó, cụm từ này đã được phân tích như là một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Nhưng các nghiên cứu về CNHT nhiều nhất vẫn là ở các quốc gia Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời khái niệm CNHT. Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã được phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia), JETRO thực hiện năm 2003 và “Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies) do ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) xuất bản năm 2004.
Báo cáo chỉ ra rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với vai trò mạnh mẽ của các DN sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản. Khoảng trống các nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả - Một số nghiên cứu đề cập đến phát triển CNHTcụ thể cho mỗi ngành như: Điện tử; Dệt may; Da giày…nhưng chưa có nghiên cứu nào cho phát triển CNHT ngành XDDD. - Một số nghiên cứu chỉ xem xét phát triển CNHT trên góc độ năng lực cạnh tranh khoa học và công nghệ, nhưng chưa đề cập đến các cấp độ khoa học và công nghệ hiện tại trong các DN CNHT. 13 - Một số nghiên cứu có xem xét đến tác động của TFP trong phát triển ngành, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tác động của TFP trong phát triển CNHT ngành XDDD.
- Một số nghiên cứu về phát triển bền vững như: Phát triển thương mại bền vững; công nghiệp bền vững…Nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về phát triển bền vững CNHT ngành XDDD. - Một số nghiên cứu về phát triển CNHT dựa trên các chỉ tiêu đánh giá khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nào dựa trên các chỉ tiêu đánh giá theo chiều rộng và chiều sâu. Tất cả các “khoảng trống” trên đây sẽ là hướng nghiên cứu chính của luận án này. Phương pháp nghiên cứu 1.
Phương pháp thu thập dữ liệu 1. Dữ liệu thứ cấp Việc xác định các tiêu thức dùng để nghiên cứu về sự phát triển CNHT ngành XDDD ở VN dựa trên cơ sở tham khảo các tài liệu, sách, bài báo, trang web, số liệu tổng cục thống kê, Bộ XD,Vụ Vật liệu XD, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, các báo cáo tài chính của các DN CNHT như Kính XD, Xi măng, Vật liệu xây, Vật liệu lợp, Vật liệu ốp lát, Tư vấn – Thiết kế - Giám sát XD… 1. Dữ liệu sơ cấp Để đánh giá khả năng phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh VLXD trong thời gian tới, cũng như xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển này, tác giả đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của các cán bộ lãnh đạo tại 350 DN sản xuất, kinh doanh VLXD, tư vấn –thiết kế-giám sát XD trên thị trường hiện nay, nhằm thu thập ý kiến của đội ngũ này cho các vấn đề trên. Công việc khảo sát được thực hiện tại ba khu vực: Miền Bắc từ Ninh Bình trở ra, số lượng DN khảo sát là 140; miền Nam từ Bình Thuận trở vào, số lượng DN khảo sát là 120; miền Trung là khu vực còn lại, số lượng DN khảo sát là 90.
Kết quả thu về, số phiếu khảo sát là 350, tuy nhiên số phiếu hợp lệ là 300 phiếu. Dữ liệu thu được từ 300 phiếu gồm có 14 116 phiếu của khu vực phía Bắc, 105 phiếu của khu vực phía Nam và 79 phiếu của khu vực miền Trung. Và phỏng vấn sâu 20 cán bộ lãnh đạo ngành XDDD. Dữ liệu này được xử lý sơ bộ bằng phần mềm Excel trước khi đưa vào thành dữ liệu của phần mềm SPSS16 để tiến hành phân tích.1: Vị trí khảo sát và số phiếu khảo sát Số phiếu/ Khu vực Số phiếu phát ra Số phiếu thu về hợp lệ Miền Bẵc 140 116 Miền Trung 90 79 Miền Nam 120 105 Tổng cộng 350 300 Bảng 1.2: Doanh nghiệp được khảo sát Ngành Xi VL VL VL Kính Tư vấn &thiết Khu vực măng xây Lợp ốp lát XD kế, giám sát Miền Bắc 20 22 24 28 15 7 Miền Trung 11 12 16 23 8 9 Miền Nam 15 17 18 22 17 16 Tổng cộng 46 51 58 73 40 32 1.
Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu 1. Phương pháp phân tích số dữ liệu thứ cấp Trong quá trình nghiên cứu, các thông tin báo cáo về tình hình hoạt động phát triển CNHT ngành XDDD được tác giả thu thập dưới dạng các báo cáo tổng hợp được Bộ XD, Tổng cục thống kê, Vụ Vật liệu xây dựng,Bộ kế hoạch và đầu tư, báo cáo tài chính của các DN CNHT.