PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tế quốc dân và có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của quốc gia cũng như của các địa phương. Thực tiễn đã chứng minh rằng công nghiệp có vai trò to lớn, quan trọng tác động đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, bởi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền sản xuất là điều kiện tiên quyết để hầu hết các quốc gia đang phát triển trở thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao. Tuy nhiên, đây là quá trình chuyển đổi phức tạp, lâu dài bao quát nhiều vấn đề của kinh tế vĩ mô, mà sự thành công của quá trình này quyết định đến mục tiêu hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân.
Lịch sử phát triển của loài người cũng đã chỉ ra rằng chỉ có phát triển công nghiệp thì kinh tế mới giàu lên được. Thông qua phát triển công nghiệp, các nguồn lực được phân bổ nhiều hơn cho khu vực công nghiệp là khu vực mà năng suất lao động được nâng cao nhanh chóng và nhờ đó mà kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn. Công nghiệp với đặc trưng sản xuất quy mô lớn phát triển, thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ngành công nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nên công nghiệp hóa làm cho thương mại nội địa lẫn thương mại quốc tế phát triển. Công nghiệp phát triển một mặt thu hút nhiều lao động hơn, làm tăng thu nhập cho người lao động, tuy nhiên cũng dễ làm họ mất việc nhiều hơn vào những lúc suy thoái kinh tế hay các doanh nghiệp bị phá sản.
Với tầm quan trọng của phát triển công nghiệp, các nghiên cứu về vấn đề này đã là chủ đề thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý trên thế giới trong nhiều thế kỷ qua và đã xuất hiện khá nhiều lý thuyết khác nhau về phát triển công nghiệp nói chung và phát triển công nghiệp bền vững nói riêng. Quá trình phát triển công nghiệp cũng làm nảy sinh những vấn đề của riêng nó. Những áp lực của đời sống hiện đại gồm ô nhiễm tiếng ồn, không khí, nước, dinh dưỡng nghèo nàn, máy móc nguy hiểm, công việc cộng đồng, sự cô đơn, vô gia cư, lạm dụng vật chất, vấn đề sức khỏe ở các vùng, khu vực phát triển công nghiệp gây ra bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của chính sự phát triển đó. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa sẽ phát triển.
Sự hình thành và phát triển của các đô thị lại dẫn tới sự bùng nổ dân số, và sự phát triển của xã hội đại chúng. Những tập quán và truyền thống của xã hội nông nghiệp bị mai một, công nghiệp hóa làm tăng sự mất công bằng trong phân phối thu nhập giữa các địa n 2 phương, các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội. Phát triển công nghiệp cũng dẫn tới ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp gia tăng. Do vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau tập trung vào chủ đề nhằm khắc phục mặt trái, những hệ lụy của phát triển công nghiệp không bền vững.
Tuy nhiên, mặc dù đã thấy rõ vị trí, vai trò của phát triển công nghiệp, song trong nhiều nghiên cứu khác nhau đã công bố cũng chỉ ra rằng ở nhiều quốc gia, địa phương vẫn mắc phải những sai lầm như chưa nhận thức đầy đủ về phát triển công nghiệp bền vững. Xuất phát từ tầm quan trọng của phát triển công nghiệp và làm thế nào để giảm thiểu các tác động tiêu cực từ phát triển công nghiệp là chủ đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhiều và luôn là chủ đề nóng bỏng của mọi thời đại. Các nghiên cứu đã chỉ ra là một trong những nghịch lý trung tâm của thời đại chúng ta là sự gia tăng đồng thời của kiến thức và công nghệ, về sự suy thoái của con người và môi trường. Toàn cầu hóa và công nghiệp hóa đã đi kèm với việc mở rộng những khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, bởi sự suy giảm của nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên của xã hội.
Theo các nhà nghiên cứu, để có thể giải quyết sự bất bình đẳng đó bằng cách phát triển công nghiệp bền vững, chỉ có như vậy mới đáp ứng nguyện vọng của xã hội và mọi tầng lớp nhân dân một cách lâu dài. Tuy nhiên, hiện vẫn có các nhận thức khác nhau về phát triển bền vững nói chung và phát triển công nghiệp bền vững nói riêng cần được tiếp tục nghiên cứu và nhiều địa phương đang phải đối mặt với bài toán giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với phát triển xã hội và vấn đề ô nhiễm môi trường. Được ví là đất nước Việt Nam thu nhỏ, Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Phía Đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc Bộ, Phía Tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp.
Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc, từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Phía Đông Bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương. Quảng Ninh có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.
Nếu phát triển công nghiệp bền vững Quảng Ninh có thể trở thành đầu tàu, lôi kéo kinh tế các tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ, một trung tâm kinh tế năng động ở phía Bắc. Tuy nhiên, trong thực tiễn tỉnh Quảng Ninh đã vấp phải những khó khăn trong phát triển công nghiệp gắn kết với phát triển bền vững văn n 3 hóa và bảo vệ môi trường rất cần có các nghiên cứu cụ thể để tìm ra các giải pháp phát triển công nghiệp bền vững phù hợp với điều kiện của tỉnh. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra với các quốc gia cũng như các địa phương là phát triển công nghiệp bền vững với ba trụ cột là phát triển bền vững về kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mỹ và địa chất, địa mạo.
Quảng Ninh có điều kiện tự nhiên và khoáng sản phong phú đã phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai thác than, sản xuất điện mang lại thu nhập cho tỉnh. Về trữ lượng than riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90% trữ lượng than của Việt Nam, ngoài ra Quảng Ninh có nguồn nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất công nghiệp khác nhau trong nước và xuất khẩu như công nghiệp khai thác than, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa tàu biển, công nghiệp đóng tàu … góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung. Do vị trí địa lý tạo điều kiện cho Quảng Ninh trở thành thị trường trung chuyển quan trọng, nhờ đó có nhiều cơ hội phát triển thương mại và các dịch vụ ở khu vực biên giới, đặc biệt ở các khu kinh tế cửa khẩu. Các tuyến giao thông phát triển và các cửa khẩu quan trọng là điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh phát triển mạnh trao đổi hàng hóa nội vùng, liên vùng và tới cả các thị trường quốc tế rộng lớn, do đó trở thành trung tâm thương mại quan trọng, điểm giao thương của các tỉnh trong cả nước, của ASEAN với Trung Quốc, sang các nước Đông Á và Châu Á- Thái Bình Dương.
Tuy nhiên thời gian qua cơ cấu công nghiệp chưa hợp lý, phát triển các khu công nghiệp cụm công nghiệp còn chậm, tỷ lệ công nghiệp chế biến phát triển chưa như mong đợi, chiếm tỷ trọng nhỏ, cơ cấu xuất khẩu sản phẩm thô còn nhiều. Đặc biệt đã xuất hiện những mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với vấn đề kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Công nghiệp khai thác than và ngành sản xuất nhiệt điện từ than đá, lại là những ngành gây ô nhiễm nặng nề nhất, đã xuất hiện những mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với vấn đề kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển công nghiệp còn làm nảy sinh một số mâu thuẫn với phát triển du lịch, dịch vụ bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên của thế giới.
Việc nghiên cứu phát triển công nghiệp bền vững của tỉnh góp phần giải n 4 quyết mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với du lịch; mâu thuẫn giữa phát triển KCN với mất tư liệu sản xuất của nông dân là đất đai nhưng lại chưa thu hút nhiều lao động nông nghiệp vào phát triển công nghiệp. Tuy vài năm trở lại đây, sản lượng khai thác và tiêu thụ than trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm, những vấn đề ô nhiễm môi trường nước, môi trường biển gây nguy hại cho đời sống dân cư quanh vùng và những thách thức to lớn khác do hậu quả phát triển công nghiệp khai thác ồ ạt nhằm tăng trưởng xuất khẩu than lấy ngoại tệ, cân đối với nhu cầu phát triển kinh tế vẫn tồn tại, đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh phải đưa ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung và chiến lược phát triển công nghiệp nói riêng một cách đúng đắn. Thực tiễn trong thời gian gần đây cũng cho thấy đã có nhiều công trình khoa học, một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về phát triển các lĩnh vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp của một số địa phương theo hướng bền vững nhưng đề tài nghiên cứu về phát triển công nghiệp bền vững ở Quảng Ninh chưa đề cập nhiều và chưa giải quyết một cách cơ bản các mâu thuẫn và các vấn đề đặt ra trong thời gian gần đây, do vậy, xuất phát từ những vấn đề trên nghiên cứu sinh chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển công nghiệp bền vững của tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế.