Luận án TS: Năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam - Nguyễn Phương Linh

Luận án tiến sĩ phân tích năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và thách thức trong ngành.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

228
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh. Nghiên cứu này nhằm làm rõ khái niệm và vai trò của năng lực động trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ. Năng lực động không chỉ giúp doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi của môi trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

1.1. Khái niệm năng lực động trong doanh nghiệp bán lẻ

Năng lực động được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc nhận diện, nắm bắt và tận dụng các cơ hội từ môi trường bên ngoài. Đối với doanh nghiệp bán lẻ, năng lực này bao gồm khả năng đổi mới, sáng tạo và thích ứng với nhu cầu của thị trường.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực động trong ngành bán lẻ

Trong ngành bán lẻ, năng lực động đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có năng lực động mạnh mẽ sẽ dễ dàng thích ứng với các xu hướng tiêu dùng mới và thay đổi trong hành vi khách hàng.

II. Thách thức đối với năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển năng lực động. Những thách thức này bao gồm sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và nhu cầu tiêu dùng.

2.1. Cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài

Sự gia tăng đầu tư nước ngoài vào ngành bán lẻ đã tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp nội địa. Các doanh nghiệp nước ngoài thường có nguồn lực tài chính mạnh mẽ và công nghệ tiên tiến, điều này khiến cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam gặp khó khăn trong việc cạnh tranh.

2.2. Thay đổi trong hành vi tiêu dùng

Hành vi tiêu dùng của người Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19. Doanh nghiệp cần phải nhanh chóng thích ứng với những thay đổi này để duy trì và phát triển thị phần.

III. Phương pháp nghiên cứu năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ

Để nghiên cứu năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp này giúp xác định các thành tố năng lực động và mối quan hệ giữa chúng với kết quả hoạt động kinh doanh.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và khảo sát ý kiến chuyên gia. Điều này giúp thu thập thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực động của doanh nghiệp.

3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng bảng hỏi để thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp bán lẻ. Dữ liệu này sẽ được phân tích để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của năng lực động đến kết quả hoạt động kinh doanh.

IV. Kết quả nghiên cứu về năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực động có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Các doanh nghiệp có năng lực động cao thường có doanh thu và lợi nhuận tốt hơn so với các doanh nghiệp khác.

4.1. Đánh giá thực trạng năng lực động

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn yếu trong việc phát triển năng lực động, đặc biệt là trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo và quản lý chuỗi cung ứng.

4.2. Mối quan hệ giữa năng lực động và kết quả kinh doanh

Phân tích cho thấy rằng năng lực động không chỉ ảnh hưởng đến doanh thu mà còn đến khả năng mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp.

V. Giải pháp nâng cao năng lực động cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Để nâng cao năng lực động, doanh nghiệp bán lẻ cần thực hiện một số giải pháp như cải thiện quản lý chuỗi cung ứng, đầu tư vào công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.

5.1. Cải thiện quản lý chuỗi cung ứng

Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ. Doanh nghiệp cần áp dụng công nghệ mới để tối ưu hóa quy trình này.

5.2. Đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo

Đầu tư vào công nghệ không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của năng lực động trong doanh nghiệp bán lẻ

Năng lực động sẽ tiếp tục là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong tương lai. Doanh nghiệp cần chủ động phát triển năng lực này để thích ứng với những thay đổi của thị trường.

6.1. Tương lai của ngành bán lẻ Việt Nam

Ngành bán lẻ Việt Nam dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt cơ hội này.

6.2. Khuyến nghị cho doanh nghiệp bán lẻ

Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược dài hạn để phát triển năng lực động, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu năng lực động của các doanh nghiệp bán lẻ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết Thuật ngữ năng lực động (Dynamic Capability) lần đầu được Teece & Pisano (1994) nhắc đến trong một bài báo khoa học về năng lực động. Các nghiên cứu mang tính nền tảng để xây dựng khung lý thuyết về năng lực động và mối quan hệ của năng lực động đến quản trị chiến lược có thể kể đến như nghiên cứu của Teece & Pisano (1994); Helfat (1997); Teece & cộng sự (1997); Eisenhardt & Martin (2000); Zollo & Winter (2002); Winter (2003); Zahra & cộng sự (2006); Helfat & cộng sự (2007); Teece (2009). Đây được coi là các nghiên cứu lý thuyết quan trọng, giúp làm sáng tỏ khái niệm, bản chất của năng lực động cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu năng lực động trong điều kiện môi trường biến động hiện nay. Ngoài các nghiên cứu lý thuyết nền tảng này, thời gian qua còn có một số công trình nghiên cứu về lý thuyết năng lực động trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã tái khẳng định vai trò và tầm quan trọng của năng lực động với doanh nghiệp. Một số nghiên cứu điển hình từ giai đoạn 2010 đến nay có thể kể đến như: Nghiên cứu của Barreto (2010) được thực hiện trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực động, nhận dạng các điểm hạn chế và thách thức chủ 9 yếu từ các nghiên cứu, đề xuất việc cần khái niệm hóa năng lực động như là một cấu trúc tổng hợp đa chiều, và đưa ra những cho các nghiên cứu về năng lực động trong tương lai. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra vai trò và tầm quan trọng của các nghiên cứu năng lực động thông qua các công trình nghiên cứu về đề tài này. Dựa trên nghiên cứu định tính, tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu năng lực động đối với DN trong điều kiện môi trường thay đổi và biến động, đồng thời chỉ ra lĩnh vực nghiên cứu này không chỉ là chủ đề của quản trị kinh doanh mà còn là chủ đề cần được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực quản trị chức năng khác nhau.

Cùng với các nghiên cứu lý thuyết trước đó, nghiên cứu của Barreto (2010) đã tái khẳng định sự cần thiết của nghiên cứu năng lực động trong điều kiện thị trường nhiều biến động và cạnh tranh hiện nay. Cuốn sách của Jones & cộng sự (2013) gồm 12 chương tập trung phân tích về các nguồn lực bên trong DN mà tập trung nhiều vào việc tạo lập và phát triển các nguồn lực vô hình dựa trên sự học hỏi để cải biến thành các năng lực động trong DN. Cuốn sách đặc biệt tập trung phân tích trong bối cảnh của các DN khởi nghiệp. Chương 9 và chương 12 của cuốn sách tập trung phân tích năng lực động và cách thức tạo ra năng lực động dựa trên quá trình học hỏi của DN khởi nghiệp để từ đó tạo được thành công cho DN trong tương lai.

Nghiên cứu của Williamson (2016) về việc xây dựng và tận dụng các năng lực động dựa trên việc ứng dụng đổi mới & sáng tạo được thực hiện dựa trên việc tổng hợp các lý thuyết về năng lực động và năng lực đổi mới & sáng tạo; gắn kết năng lực đổi mới & sáng tạo để xây dựng năng lực động và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua tình huống điển hình và phỏng vấn chuyên sâu 14 doanh nghiệp Trung Quốc trong hai giai đoạn – là những doanh nghiệp được cho là có tính đại diện tốt nhất cho các doanh nghiệp Trung Quốc có khả năng thúc đẩy và triển khai các hoạt động đổi mới & sáng tạo thành công. Bài viết cũng chỉ ra ba thành tố của năng lực động để nghiên cứu là: năng lực cảm nhận cơ hội, năng lực nắm bắt cơ hội và năng lực chuyển đổi. Kết quả của nghiên cứu cho thấy thông qua việc tối ưu hóa năng lực đổi mới & sáng tạo, cả ba thành tố của năng lực động đều được phát huy tối đa.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng năng lực động là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững. Đóng góp của nghiên cứu là đã chỉ ra mối quan hệ trực tiếp và tích cực của năng lực động đến lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại phân tích ba nhóm thành tố của năng lực động được kế thừa từ Teece & cộng sự (2009). Các thành tố còn lại của năng lực động vẫn chưa được đề cập trong nghiên cứu này.

10 Nghiên cứu của Vijaya & cộng sự (2017) sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu tại bàn trên cơ sở thu thập và xử lý các dữ liệu thứ cấp để giải quyết vấn đề. Trên cơ sở tổng hợp và hệ thống từ 171 bài viết nghiên cứu về năng lực động trong giai đoạn 1999 – 2016, bài viết đã tổng hợp và đưa ra: (1)- các biến số đầu vào của năng lực động; (2)- các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực động và (3)- các kết quả đạt được từ việc sử dụng và phát triển năng lực động. Các biến số đầu vào của năng lực động bao gồm các nguồn lực của tổ chức (nguồn nhân lực; tài chính; cơ sở hạ tầng và công nghệ kỹ thuật; thông tin, tri thức và các hệ thống của tổ chức; và mạng lưới hoạt động & các mối quan hệ); các quy trình của tổ chức (công viêc – quy trình; hành vi – quy trình; sự thay đổi – quy trình). Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực động gồm các yếu tố nội bộ DN (văn hóa của tổ chức, lãnh đạo, các yếu tố cụ thể của DN và các hành động quản trị) và các yếu tố bên ngoài (đối thủ cạnh tranh; nhà cung ứng; khách hàng; các đặc điểm của thị trường; các yếu tố văn hóa, kinh tế, xã hội, luật pháp).

Các kết quả đạt được từ việc sử dụng và phát triển năng lực động gồm các kết quả trong ngắn hạn (tạo lập lợi thế cạnh tranh ngắn hạn, tạo ra hiệu suất và lợi nhuận cho DN, sáng tạo giá trị cho khách hàng và các kết quả trong dài hạn (tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn, thị phần và duy trì giá trị trong DN). Đóng góp của nghiên cứu là đã hệ thống được các yếu tố tác động, cấu thành và các kết quả từ năng lực động. Hạn chế của nghiên cứu là chưa đưa ra các kiểm định cụ thể về các thành tố, yếu tố tác động và các kết quả đạt được từ năng lực động ở DN/nhóm DN/ngành hàng cụ thể. Nghiên cứu của Zeng & cộng sự (2017) đã chỉ ra vai trò của năng lực động không chỉ đơn thuần là việc làm mới một nhóm các năng lực cụ thể mà là một siêu năng lực giúp doanh nghiệp làm mới và tích hợp tất cả các năng lực của mình một cách liên tục.

Nghiên cứu cũng đã bổ sung thêm vào lý thuyết về năng lực động bằng việc nhận dạng các năng lực mang lại hiệu suất tối ưu cho doanh nghiệp. Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên sâu 36 chuyên gia trong lĩnh vực sản xuất ngành hàng may mặc và điện tử của Trung Quốc, nghiên cứu đã thiết lập được mô hình quy trình phát triển năng lực gồm ba giai đoạn: (1)- Giai đoạn thiết lập các trọng tâm chú ý mới gồm: từ bỏ thói quen học hỏi từ các kinh nghiệm và các bài học có trước; chú trọng đầu tư vào các cơ sở nguồn lực mới; xây dựng văn hóa học tập trong toàn bộ doanh nghiệp. (2)- Giai đoạn tập trung vào quá trình chuyển đổi nguồn lực gồm: tiến hành thử nghiệm; tiến hành phân bổ các tài nguyên, nguồn lực hiện có; xây dựng các mạng lưới kết nối mở rộng với các bên liên quan. (3)- Đồng sáng tạo với hệ sinh thái gồm: thể chế hóa việc linh hoạt các thói quen; làm giàu hơn nữa các nguồn lực của doanh nghiệp; phối kết hợp các mạng lưới kết nối mở rộng với các bên liên quan.

Giai đoạn (1) được chuyển sang giai đoạn (2) thông qua năng lực 11 lãnh đạo gồm: khả năng hoạch định lực lượng lao động chiến lược của doanh nghiệp; khả năng xây dựng hệ thống điều hành liên ngành. Giai đoạn (2) được chuyển sang giai đoạn (3) thông qua các năng lực nền tảng gồm: khả năng xây dựng cơ sở hạ tần nền tảng số cho doanh nghiệp; khả năng thúc đẩy các thành viên tham gia vào nền tảng số của doanh nghiệp. Đóng góp của nghiên cứu là ngoài việc xây dựng được mô hình quy trình phát triển năng lực của doanh nghiệp còn tập trung vào năng lực động tại cac quốc gia mới nổi và đang phát triển. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ tập trung vào nhóm các doanh nghiệp sản xuất với các đặc điểm khác biệt rõ ràng với các doanh nghiệp thương mại nói chung mà cụ thể là các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

Ở Việt Nam trong thời gian qua đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh (NLCT) nói chung. Có thể kể đến như các nghiên cứu của Nguyễn Bách Khoa (2004), Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Trần Sửu (2006) … Các nghiên cứu trên nhìn chung đã có đóng góp nhất định cho việc xây dựng phương pháp đánh giá NLCT cho các DN trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng “mở”. Đối với các nghiên cứu cụ thể về năng lực động thì có thể thấy số lượng các nghiên cứu không nhiều. Các nghiên cứu về chủ đề năng lực động thực sự được chú ý ở Việt Nam từ 2009 đến nay.

Có thể kể đến một vài nghiên cứu tiêu biểu sau: Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Việt (2012) đã làm rõ khái niệm năng lực kinh doanh. Dựa trên việc tổng hợp các cách tiếp cận khác nhau về năng lực động, tác giả bài báo đã phân năng lực kinh doanh thành bốn loại: năng lực tài sản, năng lực nguồn lực kinh doanh, năng lực kinh doanh hiển thị và năng lực kinh doanh động. Nghiên cứu đã xây dựng được cấu trúc bậc năng lực kinh doanh. Theo đó, năng lực kinh doanh gồm năm bậc xếp theo thứ tự từ bậc thấp nhất đến bậc cao nhất là: năng lực nguồn  năng lực hiển thị  năng lực động  tài sản chiến lược kinh doanh  lợi thế cạnh tranh bền vững.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Phương Linh mang tên Năng lực động của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam là một nghiên cứu sâu sắc về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước. Luận án tập trung vào việc đánh giá năng lực động, bao gồm khả năng thích ứng và đổi mới của các doanh nghiệp bán lẻ, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng và tiềm năng của ngành bán lẻ Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh. Với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực động, luận án này có thể giúp các nhà quản lý và doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc phát triển ngành bán lẻ, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, bạn đọc có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như cạnh tranh trong thương mại, năng lực marketing, và ảnh hưởng của văn hóa tổ chức để có cái nhìn đa chiều về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp.