MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu HQKD là mục tiêu đồng thời cũng là động lực hoạt động của mỗi DN, DN không thể tồn tại và phát triển được nếu hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Thị trường càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu, rộng, tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển càng nhanh, mức độ cạnh tranh của các DN càng gay gắt thì nhu cầu sử dụng hệ công cụ quản trị DN, nhất là quản trị tài chính một cách đồng bộ và hữu hiệu để nâng cao HQKD ngày càng cần thiết. Các CT thuộc Tổng CT Viglacera – CTCP, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất VLXD và xây dựng, phát triển hạ tầng các KCN, phát triển các khu đô thị… với chiến lược: “Tiên phong công nghệ xanh, tự hào thương hiệu Việt” đã và đang đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế đất nước.
Quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại CT mẹ, các CT con đã thực hiện trong nhiều năm qua, hầu hết các CT đã, đang giảm tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước và chuyển sang hoạt động theo mô hình CTCP, từng bước nâng cao năng lực quản trị CT để trở thành các CT đại chúng. Nhiều CT đã phát huy nội lực, tích cực nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến công nghệ sản xuất, từng bước tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, HQKD của một số CT thuộc Tổng CT Viglacera vẫn còn thấp, thậm chí một số công ty lỗ liên tục trong những năm gần đây, năm 2020 hầu hết các công ty HQKD sụt giảm mạnh so với các năm trước. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này như: chất lượng thẩm định và lựa chọn dự án đầu tư chưa tốt, cơ cấu tài sản chưa hợp lý, biên lợi nhuận ròng quá thấp, đòn bẩy tài chính chưa phát huy tác dụng, quy mô vốn nhỏ, chi phí tăng mạnh, hàng tồn kho chậm luân chuyển, công nghệ sản xuất lạc hậu, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, công tác quản trị tài chính chưa theo kịp với đòi hỏi thực tế….
Thêm vào đó, các cuộc chiến tranh thương mại của các nước lớn, nhất là sự bùng phát bất ngờ của đại dịch Covid 19 đã làm đứt gãy, tê liệt nhiều chuỗi cung ứng, hoạt động xuất, nhập khẩu vật tư, hàng hóa gặp nhiều khó khăn, tình trạng hoạt động cầm chừng, giá nguyên vật liệu tăng. nguy cơ dừng hoạt động, phá sản đã và đang đe dọa nhiều DN, trong đó có các CT thuộc Tổng CT Viglacera – CTCP. Việc nghiên cứu chuyên sâu về HQKD của DN, xác định những nhân tố tác động đến HQKD trong bối cảnh hiện nay, đề xuất hệ thống giải pháp 2 thích hợp và đồng bộ góp phần nâng cao HQKD của các DN nói chung, các CT thuộc Tổng CT Viglacera – CTCP nói riêng trong thời gian tới là vô cùng cần thiết. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các công ty thuộc Tổng công ty Viglacera – Công ty cổ phần” làm luận án tiến sỹ của mình.
Tổng quan nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu về bản chất HQKD của DN 2. Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu chủ đề về HQKD của DN thường xuất phát từ khái niệm, bản chất HQKD của DN, làm rõ các chỉ tiêu đo lường HQKD, các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD và cuối cùng là đề xuất các giải pháp để nâng cao HQKD của DN. Có nhiều nghiên cứu công bố về khái niệm và chỉ ra bản chất HQKD của DN.
Điển hình là các nghiên cứu sau: Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước năm 1986 các tác giả: Ngô Đình Giao (1984), [21, tr 39], Nguyễn Văn Tạo(1984), [54, tr44] đã cho rằng: HQKD của DN trong nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh được giao với chi phí bỏ ra tiết kiệm nhất. Sau năm 1986, các tác giả: Trương Đình Hệ (1988), [29, tr 31-35], Lê Thanh Bình (1996), [10, tr37]; Nguyễn Thị Minh An (2003), [1, tr45]; Phạm Thị Thu Phương (1999), [44, tr43]; Trần Văn Ất (2002), [4, tr36],; Nguyễn Đăng Liêm (1994), [36, tr 41]; Chu Xuân Lai (2005), [34, 71], Dương Văn Chung (2003), [12, tr52], Phạm Trọng Bình (2000) [9, tr 18], Đoàn Minh Phụng (2009) [43, tr 32] ;Nguyễn Tấn Bình [8, tr 81], Nguyễn Thanh Hải(2011), [22, tr40]; Nguyễn Minh Dũng (2014), [18, tr24], Nguyễn Việt Dũng (2016), [19, tr 35], Đoàn Thục Quyên (2015), [51, tr44], Nguyễn Đình Hoàn (2017), [25, tr15].cho rằng: HQKD của DN phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào để tối đa hóa kết quả đầu ra. Kết quả đầu ra của DN bao gồm: giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận. Các nguồn lực đầu vào của DN gồm: VKD, chi phí sản xuất kinh doanh: lao động, vật tư, máy móc thiết bị… Nhiều nghiên cứu về HQKD của DN cho rằng: HQKD của DN phản ánh mối quan hệ giữa tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được và lợi ích DN đóng góp cho xã hội so với nguồn lực, chi phí DN phải chi ra qua 3 mỗi thời kỳ, DN đạt được HQKD sẽ tạo tiền đề để DN phát triển.
Điển hình là các nghiên cứu của các tác giả: Huỳnh Đức Lộng (1999), [38, tr42], Phạm Trọng Bình (2000), [9, tr 46-48], Trần Văn Ất (2002), [4], Phạm Phúc (2004), [47], Chu Xuân Lai (2005), [34, tr 67-69], Đỗ Huyền Trang (2012), [62. Tr45], Trần Thị Thu Phong (2013), [41, tr50], Nguyễn Trọng Cơ (2015), [13, tr181-182], Nghiêm Thị Thà và cộng sự (2018), [55, tr 22] đã làm rõ thêm quan hệ giữa lợi ích DN thu được với lợi ích DN mang lại cho xã hội, làm rõ thêm bản chất HQKD của DN, đồng quan điểm này có tác giả Dương Thu Minh (2020), [32,tr22- 25]. Theo các nghiên cứu thì HQKD của DN trong mỗi thời kỳ phản ánh mối quan hệ giữa kết quả của quá trình kinh doanh bao gồm: lợi ích kinh tế của DN và lợi ích DN mang lại cho xã hội so với hao tổn nguồn lực của DN để tạo ra kết quả đó trong kỳ. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Các nghiên cứu về HQKD của DN đã được các tác giả nước ngoài tiếp cận khá đầy đủ trên cả 2 khía cạnh: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Điển hình là các nghiên cứu sau: Theo Paul A Samuelson & Wiliam D Nordhaus (1997), [112, tr43], Gujaratu Damodar (2003), [94, tr40], Lee C. Omondi, Willy Muturi (2013), [102, page 99]; Fang-Mei Tseng et al (2007), [91, page 688]; Umit Bititci, Allan S. Carrie, Liam McDevitt (2009), [123, page 232], A.Singh và Raymond S.Schmidgall (2002), [71, page 37], chỉ ra rằng: HQKD của DN phản ánh lợi ích tối đa DN có thể thu được về mặt tài chính, thị trường, uy tín xã hội khi tiêu tốn nguồn lực kinh tế tối thiểu. Koutsoyiannis (1996), [76] cho rằng HQKD của DN bao gồm HQTC và HQPTC.
Như vậy, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về bản chất HQKD của DN đều thống nhất trên 2 khía cạnh: Thứ nhất: HQKD của DN phản ánh mối quan hệ giữa mục tiêu hoạt động kinh doanh của DN là tối đa hóa lợi ích với nguồn lực hao phí tài chính tối thiểu của DN trong mỗi thời kỳ. 4 Thứ hai: HQKD của DN không thể tách rời với lợi ích của xã hội. DN chỉ đạt được HQKD bền vững khi mang lại lợi ích cho xã hội và giữ được uy tín trong xã hội. Tình hình nghiên cứu về đo lường HQKD của DN 2.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước Các nhà nghiên cứu và DN đã đo lường HQKD bằng nhiều tiêu chí khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều đã đề cập 2 nhóm chỉ tiêu đánh giá HQKD là: HQTC và HQPTC. Hiêu quả tài chính của DN được đo lường qua 2 nhóm chỉ tiêu là: HQTC trung gian và HQTC cuối cùng căn cứ vào dữ liệu kế toán và 1 số công trình đã sử dụng dữ liệu thị trường để đo lường HQKD của các CT niêm yết. Điển hình cho các nghiên cứu này là tác giả: Nguyễn Thị Minh Tâm (1999) [57, tr 58-61], Phạm Trọng Bình, (2000)[9, tr37], Phạm Thị Thu Phương (1999)[44, 33- 36], Võ Minh Long (2017), [37, tr 87-91], Nguyễn Tuấn Phương (2010), [45], Nguyễn Thị Mai Hương (2008), [26 tr 33-37], Trần Thị Thanh Tú (2009), [61], Đoàn Hương Quỳnh (2010) [50], Trần Quý Liên (2011) [35, 106-108], Phạm Thị Vân Anh (2012), [2], Nguyễn Thị Thu Hương (2013), [25, tr 39], Trần Thị Thu Phong (2013),[41, tr56- 58], Nguyễn Thị Thanh Hải (2013), [23, tr40], Nguyễn Văn Phúc (2015), [42, tr 21], Ngô Thị Thanh Huyền (2016), [27, tr34-37], Võ Minh Long (2017), [37, Tr38-39], Lê Thị Nhung (2017) [31, tr 30-34], Nguyễn Đình Hoàn, (2017), [20, tr.2 nhóm chỉ tiêu đo lường HQTC của DN gồm: HQTC trung gian của DN đo lường bằng các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động của DN, cụ thể gồm: hiệu suất sử dụng VKD, tốc độ luân chuyển VLĐ, tốc độ luân chuyển vốn tồn trữ, tốc độ luân chuyển vốn thanh toán, tỷ suất chi phí… HQTC cuối cùng đo lường bằng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của DN, cụ thể gồm: tỷ suất LNST trên doanh thu – ROS, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: BEP, ROA và tỷ suất LNST trên VCSH – ROE, tỷ suất sinh lời vốn cổ phần EPS, P/B, EVA, chỉ tiêu Tobin’s Q, Các tác giả Nguyễn Trọng Cơ (2015), [13, tr195-197], Nghiêm Thị Thà và cộng sự (2018), [55, tr 33], Dương Thu Minh (2020) [33, tr 53,54] cho rằng để đánh giá toàn 5 diện HQKD của DN, ngoài các chỉ tiêu đo lường HQKD của DN thông qua nhóm chỉ tiêu HQTC như trên thì cần sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá đóng góp của DN cho xã hội, bao gồm các chỉ tiêu cụ thể như: Số lượng lao động của DN, Thu nhập BQ của người lao động, sự hài lòng của khách hàng, kết quả thực hiện công tác thiện nguyện, bảo vệ môi trường.
của DN trong mỗi kỳ kinh doanh. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Các nghiên cứu ở nước ngoài về tiêu chí đo lường HQKD của DN về cơ bản cũng thống nhất sử dụng 2 nhóm chỉ tiêu là: HQTC và HQPTC. Điển hình là các nghiên cứu của các tác giả: Kaplan, Robert S. Norton, David P (1996), [100], CFA Institute (2008), [84], CFA (2008)[82], Fang-Mei Tseng et al (2007), [91, tr39], Umit Bititci, Allan S.
Carrie, Liam McDevitt (2009), [123], A.Singh và Raymond S.