phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục và tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 4 chƣơng chính: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nâng cao chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2017. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018-2025. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống lại đƣợc bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế ngƣời Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh đƣợc chấp nhận. Porter - một chuyên gia uy tín trên thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách đầy đủ và chƣa có một định nghĩa nào đƣợc chấp nhận một cách thống nhất.
Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "Năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm đƣợc hiểu thiếu đầy đủ" (Misunderstood concept). Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế và các nhà báo. Có nhiều hội thảo liên quan đến năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã đƣợc công bố nhƣng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một số ít các nhà nghiên cứu về các lĩnh vực có ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của vùng địa phƣơng. Tổng luận tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả nhƣ Thorne (2002), Momay (2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bƣớc vào thời kỳ "bùng nổ" với số lƣợng công trình nghiên cứu đƣợc công bố rất lớn.
Qua nghiên cứu của NCS chia thành các quan niệm sau: * NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trƣờng phái nghiên cứu nổi tiếng nhƣ: Kinh tế học Chamberlin, Một nhà kinh tế ngƣời Mỹ nổi tiếng với Lý thuyết cạnh tranh độc quyền (1933). Trong lý thuyết này, ông đã phân tích tình hình thị 6 trƣờng giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền độc lập với công trình ở Anh của Joaobinson. Ông cho rằng các hãng cạnh tranh với nhau vì cầu nối với sản phẩm của họ bị tác động bởi sự tồn tại của các hãng khác, nhƣng mỗi hãng lại có mức độ độc quyền nào đó vì chúng có các sản phẩm riêng mình. Cạnh tranh có thể dƣới dạng cạnh tranh sản phẩm, trong đó quảng cáo rất quan trọng cũng nhƣ đối với cạnh tranh bằng giá vậy.
Chanberlin nhấn mạnh tính biến dị sản phẩm đối lập với sự không hoàn hảo của thị trƣờng, bao gồm yếu tố nhƣ tên nhãn mác, chất lƣợng đặc biệt, mẫu, bao bì và dịch vụ bán hàng. Một trong những kết luận nổi lên từ sự phân tích của ông là cạnh tranh độc quyền có thể có đặc trƣng thừa năng lực, một kết quả bị thách thức vì nó có vẻ phụ thuộc vào giả định rằng tất cả thành viên của một nhóm hoạt động dƣới những điều kiện chi phí giống nhau. Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO) nhận định rằng Một ngành khoa học thuộc kinh tế học, liên quan với hoạt động thuộc hệ thống giá. Kinh tế học công nghiệp khảo sát sự liên hệ lẫn nhau giữa cơ cấu thị trƣờng, hƣớng dẫn thị trƣờng và thao tác thị trƣờng, bằng cách sử dụng phân tích mô hình của lý thuyết thị trƣờng Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), Kinh doanh chủ yếu vào cơ cấu ngành mà doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau.
Cơ cấu của ngành sẽ quyết định đến hành vi chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp và điều này sẽ dẫn đến kết quả kinh doanh ngành. Lý thuyết môi trƣờng kinh doanh (Baney,1991). Tuy nhiên, khi môi trƣờng kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lƣợc kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thƣờng có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chƣớc, hoặc mua bán trên thị trƣờng nguồn lực. Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trƣờng và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực.
Do vậy, trong môi trƣờng kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,. đã không còn là lợi thế của DN. Mặt khác, đối tƣợng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hƣớng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng 7 ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
* NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh cổ điển Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVIII mà nhân vật đại biểu kiệt xuất là Adam Smith và David Ricardo. Trong tác phẩm “Nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của cải của quốc dân” hay còn gọi là “Quốc phú luận” đề cập đến năng lực cạnh tranh toàn cầu xuất bản năm 1776 với tƣ tƣởng tự do kinh tế trong đó có tƣ tƣởng tự do cạnh tranh. Adam Smith là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học lớn ngƣời Scotland (1723-1790). Trong tác phẩm “Quốc phú luận”, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội.
Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trƣờng và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trƣờng. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh tranh và thi đua thƣờng tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Ngƣợc lại, chỉ có mục đích lớn lao nhƣng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra đƣợc bất kỳ sự cố gắng lớn nào”. Cũng trong một tác phẩm khác của mình là “Sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776.
Đƣợc công nhận là tác giả khái niệm lợi thế tuyệt đối với tác phẩm này. Trong đó nói rằng mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối. David Ricardo nhà kinh tế học ngƣời Anh (1772-1823) với tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá” đã phát triển lý thuyết của Adam Smith thành lý thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết này cho rằng một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tƣơng đối so với quốc gia kia.
Mỗi quốc gia mỗi ngành có lợi thế so sánh về tài nguyên khác nhau, công nghệ khác nhau. Do đó có thể sản xuất và bán những sản phẩm mình có lợi thế hơn và thông qua ngoại thƣơng nhập những mặt hàng mình kém ƣu thế hơn. Adam smith và David Ricardo chỉ rõ giá trị và giá trị sử dụng hàng 8 hóa và chính 2 yếu tố này quyết định đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa [David Ricardo, 1817]. * NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển Trƣờng phái tân cổ điển ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nƣớc vào kinh tế, tin tƣởng cơ chế thị trƣờng sẽ tự điều tiết nền kinh tế thăng bằng cung cầu và có hiệu quả.
Lý luận về cạnh tranh hoàn hảo của trƣờng phái Tân cổ điển cuối thế kỷ XIX, đại biểu là W.Jevons (1835-1882), theo lý thuyết của ông thì thu nhập và của cải đƣợc phân phối đều khắp, nhà nƣớc không phải nhúng tay vào và các doanh nghiệp phải tự nó cạnh tranh với nhau. Quy luật năng suất lao động của John Bates Clark, theo ông lợi ích của lao động thể hiện ở năng suất lao động (ích lợi của các yếu tố sản xuất thể hiện ở năng suất của nó). Song năng suất lao động của các yếu tố là giảm sút (bất tƣơng sứng). Do vậy, đơn vị yếu tố sản xuất đƣợc sử dụng sau cùng là đơn vị yếu tố sản xuất giới hạn - sản phẩm của nó là sản phẩm giới hạn, năng suất của nó là năng suất giới hạn, nó quyết định đến tất cả năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất khác.
Lý thuyết hệ thống sản xuất: Tính nhất quán và những động thái của A. Mashall (1842-1924), Trong tác phẩm “Những nguyên lí kinh tế chính trị học” của ông, A. Marshall đã nhận diện những tính kinh tế bên ngoài đƣợc ông đối lập với những tính kinh tế bên trong của doanh nghiệp. Khái niệm tính kinh tế bên ngoài thật ra có hai thiên hƣớng.
Một mặt vấn đề là giải thích rằng qui luật lợi tức giảm dần ở cấp độ mỗi doanh nghiệp dẫn đến việc giới hạn quy mô của doanh nghiệp có thể tƣơng thích với sự tăng trƣởng chung của nền kinh tế. Mặt khác phải giải thích những lí do thúc đẩy các doanh nghiệp chuyên môn hoá về cùng một nghề, do đó trực tiếp trở thành cạnh tranh nhau, tập hợp nhau lại trên cùng một lãnh thổ thay vì ở rải rác xa nhau. Sự phụ thuộc lẫn nhau này giữa các doanh nghiệp kéo theo là quyết định của mỗi tác nhân làm phát sinh những hiệu ứng mà doanh nghiệp không đƣa vào trong những tính toán cá thể và riêng tƣ.