Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức giai đoạn hiện nay" do nghiên cứu sinh Trần Văn Cường thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước (mã số đào tạo tại Hà Nội, năm 2026). Luận án được triển khai nhằm giải quyết yêu cầu khách quan về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh kinh tế tri thức, chuyển đổi số và phát triển trí tuệ nhân tạo.

Về tính cấp thiết, tác giả khẳng định tri thức là nền tảng của tiến bộ xã hội và đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt trong sáng tạo, truyền bá tri thức. Tại Việt Nam, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Kết luận số 52-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đều xác định xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh toàn diện là đầu tư bồi đắp "nguyên khí quốc gia", gắn liền với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị.

Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, địa bàn có diện tích khoảng 40,6 nghìn km² và dân số khoảng 17,5 triệu người (chiếm gần 18% dân số cả nước), giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về địa chính trị, địa kinh tế và địa quân sự. Vùng đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, 95% lượng gạo xuất khẩu, gần 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng, 60% lượng cá xuất khẩu và gần 70% các loại trái cây của cả nước. Tuy nhiên, vùng đang đối mặt với nhiều thách thức liên ngành, liên vùng nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, sụt lún, xâm nhập mặn, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh, phát triển logistics, kinh tế tuần hoàn và liên kết vùng. Đặc biệt, từ ngày 01/7/2025, việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh làm thay đổi cấu trúc không gian từ 13 tỉnh, thành phố xuống còn 5 địa phương mới, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mạng lưới chuyên gia, tích hợp dữ liệu và chính sách.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức, đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể, nội dung, phương thức lãnh đạo với kết quả phát triển đội ngũ trong điều kiện sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức, luận án đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức đến năm 2030.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 4 nhiệm vụ cụ thể:

  • Một là, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, qua đó xác định những vấn đề trọng tâm luận án cần tập trung giải quyết.
  • Hai là, luận án phân tích, luận giải và làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức giai đoạn hiện nay.
  • Ba là, luận án tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và thực trạng các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức trong thời gian qua, trên cơ sở đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn.
  • Bốn là, luận án dự báo các yếu tố thuận lợi, khó khăn; đồng thời đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức của các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.

Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức, không bao gồm đội ngũ trí thức trong lực lượng vũ trang.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2020 đến ngày 30/6/2026, phân định thành ba lớp phân tích gồm: thực trạng trước sắp xếp đến ngày 30/6/2025; quá trình chuyển tiếp, kiện toàn tổ chức, chính sách và dữ liệu từ ngày 01/7/2025; kết quả bước đầu sau một năm vận hành các đơn vị mới đến ngày 30/6/2026.
  • Phạm vi không gian: Giai đoạn 2020 đến 30/6/2025 nghiên cứu trên địa bàn 13 tỉnh, thành phố trước sắp xếp (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long). Giai đoạn từ 01/7/2025 đến 30/6/2026 nghiên cứu trên địa bàn 5 đơn vị hành chính mới sau sắp xếp (An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long). Tỉnh Long An hợp nhất với Tây Ninh và chuyển thuộc vùng Đông Nam Bộ nên không thuộc phạm vi so sánh kéo dài đến năm 2026.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế theo từng hướng tiếp cận chuyên đề:

Về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:

  • Nhóm nghiên cứu về chính đảng và đảng cầm quyền: Lưu Chấn Hoa (2010) với công trình "Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng", phân tích việc đổi mới phương thức lãnh đạo khoa học, dân chủ, theo pháp luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc; Đường Hoàng Phượng (2024) với "Khám phá của Trung Quốc về xây dựng đảng mácxít cầm quyền trong thời đại mới"; Âu Dương Tùng chủ biên (2026) với "Lịch sử xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc". Các công trình này cung cấp cơ sở lý luận về năng lực thể chế hóa, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện của đảng cầm quyền.
  • Nhóm nghiên cứu về trí thức và phát triển nguồn nhân lực: Jennifer Lewington (2011) với công trình nghiên cứu chính sách thu hút nhân tài và Quỹ Đổi mới Canada; nghiên cứu về mô hình giáo dục toàn diện của Thụy Điển; báo cáo "Talent-driven economic development: A new vision and agenda for regional and state economies" (2019) tiếp cận phát triển kinh tế vùng lấy nhân tài làm động lực trung tâm; cuốn sách của nhóm phóng viên Hãng thông tấn Kyodo News (2022) do Nxb Nihon Hyoronsha ấn hành, cảnh báo về sự suy giảm năng lực nghiên cứu cơ bản và những bất cập trong đánh giá trí thức tại Nhật Bản; Philip Yeo (2026) với "Neither Civil Nor Servant: Singapore's Disruptive Economic Playbook", phân tích kinh nghiệm kiến tạo thể chế và đầu tư khoa học công nghệ của Singapore.

Về các công trình nghiên cứu ở trong nước:

  • Nhóm về sự lãnh đạo của Đảng và cấp ủy địa phương: Bùi Đình Bôn (2017) nghiên cứu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; Nguyễn Trung Thanh (2018) về nội dung và phương thức cầm quyền; Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Viết Thông (2021) về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; Trần Thị Minh và Nguyễn Thị Tố Uyên (2023) về nâng cao năng lực cầm quyền. Ở cấp độ vùng đồng bằng sông Cửu Long, các công trình của Trần Hoàng Khải (2022) về xây dựng đội ngũ cán bộ người Khmer; Đoàn Trung Dũng (2025) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Lê Thị Diễm Trinh (2025) về vận động đồng bào Khmer; Phan Thị Minh Hiền (2026) về lãnh đạo phát triển nông nghiệp bền vững.
  • Nhóm về quan điểm, chính sách và thực trạng đội ngũ trí thức: Nguyễn Văn Khánh (2016), Nguyễn Viết Thông và Lê Thị Sự (2019), Vũ Trọng Lâm (2023), Đoàn Nam Chung (2024), Phạm Văn Dự (2025), Vũ Đình Quyền, Nguyễn Thắng Lợi (2017), Phan Mạnh Toàn và Thạch Trần Thị Cầm (2025). Về cơ chế chính sách có đề tài cấp nhà nước KX.06-10 của Đức Vượng (2010), Lê Văn Hùng (2022), Ngô Hương Giang (2022), Vũ Thế Tùng và Đỗ Thị Thạch (2022), đề tài cấp quốc gia của Bùi Nhật Quang (2023), Phạm Đình Khuê (2024), Phạm Anh Tuấn và Bùi Nhật Huy (2023). Về bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có Nguyễn Thị Hương (2020), Nguyễn Chí Hiếu (2023), Lê Thị Thu Huyền (2024), Lê Văn Thắng và Nguyễn Văn Tuân (2024), Hoàng Thị Ngân và Nguyễn Duy Niên (2025), Nguyễn Văn Điều (2026).
  • Nhóm nghiên cứu trí thức theo vùng, địa phương: Lương Hữu Nam (2017), Nguyễn Duy Thụy (2024), Dương Thị Hậu (2025) nghiên cứu vùng Tây Nguyên; Nguyễn Thế Nghĩa (2017) và Biền Quốc Thắng (2019) nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Hùng (2019) nghiên cứu vùng Tây Bắc; Nguyễn Huyền Trang (2021) nghiên cứu Hà Nội, Đà Nẵng, Lào Cai; Nguyễn Thị Thu Phương (2026) nghiên cứu Hà Nội. Trực tiếp tại đồng bằng sông Cửu Long có Phan Thị Thanh Hoa (2024) nghiên cứu tỉnh Kiên Giang và Lâm Thị Kho (2024) nghiên cứu trí thức người dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết:

  • Thứ nhất, các công trình hiện có chủ yếu nghiên cứu ở cấp độ toàn quốc hoặc tại các vùng khác, chưa hình thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức gắn với tính đặc thù của vùng.
  • Thứ hai, các nghiên cứu về trí thức tại vùng đồng bằng sông Cửu Long còn phân tán theo từng địa phương đơn lẻ hoặc từng nhóm đối tượng hẹp, chưa khảo sát toàn diện trên quy mô toàn vùng theo chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
  • Thứ ba, chưa có công trình nào đánh giá trực tiếp và đồng bộ cả 5 nội dung và 5 phương thức lãnh đạo của cấp ủy, làm rõ quá trình chuyển hóa từ nghị quyết sang chính sách cụ thể và kết quả thực tế trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh.
  • Thứ tư, thiếu hệ thống giải pháp đồng bộ gắn trực tiếp với đặc thù thích ứng biến đổi khí hậu, kinh tế nông nghiệp giá trị cao và liên kết 5 tỉnh, thành phố mới đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của trí thức và phương thức lãnh đạo của Đảng. Khung phân tích lý thuyết của đề tài được xác lập gồm 5 nội dung lãnh đạo và 5 phương thức lãnh đạo:

  • 5 nội dung lãnh đạo: Lãnh đạo nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức; Lãnh đạo định hướng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng trí thức; Lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh; Lãnh đạo tạo lập môi trường dân chủ, tôn trọng hoạt động học thuật và nghiên cứu sáng tạo; Lãnh đạo phát huy vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội và chuyển giao tri thức của trí thức.
  • 5 phương thức lãnh đạo: Lãnh đạo bằng việc ban hành nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, đề án, kế hoạch; Lãnh đạo thông qua công tác tổ chức, cán bộ; Lãnh đạo chính quyền thể chế hóa chủ trương và tổ chức thực hiện; Lãnh đạo thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các hội chuyên ngành; Lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và phát huy tính nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử kết hợp lôgíc được áp dụng xuyên suốt để phân tích các văn kiện chính trị, báo cáo tổng kết thực tiễn của 13 cấp ủy trước sáp nhập và 5 cấp ủy sau sáp nhập.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Được thực hiện từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025 tại 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (theo địa giới trước sắp xếp). Khung đánh giá gồm 31 chỉ báo đo lường 5 nội dung và 5 phương thức lãnh đạo theo thang đo Likert 5 mức độ.
  • Mẫu khảo sát: Sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, có chủ đích kết hợp hạn ngạch theo địa phương và nhóm đối tượng. Tổng số phiếu phát ra là 920 phiếu (vượt 15% dự phòng so với mục tiêu 800 mẫu), gồm 230 Phiếu số 1 (dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ tham mưu, người đứng đầu cơ quan) và 690 Phiếu số 2 (dành cho đội ngũ trí thức). Số phiếu thu về là 870 phiếu (đạt 94,57%). Sau khi làm sạch dữ liệu và loại bỏ 70 phiếu không hợp lệ (11 Phiếu số 1 và 59 Phiếu số 2), số phiếu hợp lệ đưa vào phân tích là 800 phiếu (200 Phiếu số 1 và 600 Phiếu số 2), đạt tỷ lệ 86,96% số phiếu phát ra.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel. Các kỹ thuật thống kê mô tả bao gồm: tính tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, xếp hạng chỉ báo và xử lý câu hỏi nhiều lựa chọn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản, nghị quyết của Trung ương (Nghị quyết số 27-NQ/TW, Kết luận số 52-KL/TW, Nghị quyết số 45-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIII, XIV).
  • Văn kiện, nghị quyết, chương trình hành động, báo cáo sơ kết, tổng kết của 13 tỉnh ủy, thành ủy (giai đoạn đến 30/6/2025) và 5 tỉnh ủy, thành ủy mới (giai đoạn từ 01/7/2025 đến 30/6/2026).
  • Số liệu thống kê chính thức, niên giám thống kê, báo cáo từ Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, viện nghiên cứu, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật trong vùng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến chủ thể lãnh đạo và đối tượng xây dựng đội ngũ trí thức. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế cung cấp góc nhìn về năng lực cầm quyền khoa học (Lưu Chấn Hoa, 2010), xây dựng đảng mácxít hiện đại (Đường Hoàng Phượng, 2024), cũng như vai trò quyết định của kinh tế dựa trên nhân tài (Talent-driven economic development, 2019) và các kinh nghiệm thu hút chuyên gia từ Singapore, Canada, Nhật Bản. Ở trong nước, các nghiên cứu làm rõ các bước phát triển nhận thức của Đảng về trí thức qua các kỳ đại hội và nghị quyết chuyên đề, đồng thời phân tích những bất cập về thể chế đãi ngộ, môi trường nghiên cứu và cơ chế sử dụng nhân lực trình độ cao. Điểm luận chứng trung tâm của chương là xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu cơ bản, khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu có hệ thống năng lực lãnh đạo của các cấp ủy vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với đội ngũ trí thức trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính cấp tỉnh.

Chương 2: Các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, thẩm quyền của các tỉnh ủy, thành ủy với tư cách là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng bộ địa phương giữa hai kỳ đại hội; làm rõ khái niệm đội ngũ trí thức vùng đồng bằng sông Cửu Long là lực lượng lao động trí óc chất lượng cao, có chuyên môn sâu, hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, quản lý nhà nước, văn hóa - văn nghệ và sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của vùng. Tác giả phân tích tính đặc thù tự nhiên - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long và quá trình sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025.

Tên gọi trước sáp nhập (13 tỉnh, thành phố) Tên gọi hiện tại (5 tỉnh, thành phố) Ghi chú địa giới
Tỉnh An Giang, Tỉnh Kiên Giang Tỉnh An Giang Sáp nhập thành tỉnh An Giang mới
Tỉnh Bạc Liêu, Tỉnh Cà Mau Tỉnh Cà Mau Sáp nhập thành tỉnh Cà Mau mới
Thành phố Cần Thơ, Tỉnh Hậu Giang, Tỉnh Sóc Trăng Thành phố Cần Thơ Sáp nhập thành Thành phố Cần Thơ mới
Tỉnh Đồng Tháp, Tỉnh Tiền Giang Tỉnh Đồng Tháp Sáp nhập thành tỉnh Đồng Tháp mới
Tỉnh Bến Tre, Tỉnh Trà Vinh, Tỉnh Vĩnh Long Tỉnh Vĩnh Long Sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Long mới
Tỉnh Long An, Tỉnh Tây Ninh Tỉnh Tây Ninh Chuyển thuộc vùng Đông Nam Bộ

Nội dung chương 2 phân định rõ 5 nội dung và 5 phương thức lãnh đạo của cấp ủy, chỉ rõ vai trò của cấp ủy trong việc chuyển hóa đường lối của Đảng thành các chương trình, đề án địa phương, bảo đảm tính pháp lý thông qua chính quyền và phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học.

Chương 3: Các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức - Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực nghiệm và phân tích dữ liệu thực tế về thực trạng phát triển đội ngũ trí thức và sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng từ năm 2020 đến ngày 30/6/2026. Số liệu điều tra xã hội học từ 800 mẫu hợp lệ được phân tích chi tiết nhằm đối sánh giữa đánh giá của nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý (Phiếu số 1) và nhóm trí thức trực tiếp (Phiếu số 2).

Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu thu về Tỷ lệ thu hồi (%) Số phiếu bị loại Số phiếu hợp lệ Tỷ lệ hợp lệ / phát ra (%)
Phiếu số 1 (Cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu) 230 211 91,74% 11 200 86,96%
Phiếu số 2 (Đội ngũ trí thức) 690 659 95,51% 59 600 86,96%
Tổng cộng 920 870 94,57% 70 800 86,96%

Kết quả xử lý 31 chỉ báo đánh giá cho thấy các ưu điểm: Các cấp ủy đã kịp thời ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 45-NQ/TW; tỷ lệ trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ có xu hướng gia tăng qua các năm; các chính sách đào tạo, bồi dưỡng được duy trì. Tuy nhiên, luận án chỉ rõ các hạn chế căn bản:

  • Có khoảng cách đáng kể giữa điểm đánh giá của nhóm cán bộ lãnh đạo với trải nghiệm thực tế của trí thức;
  • Cơ chế thu hút và đãi ngộ chưa đủ sức giữ chân các chuyên gia đầu ngành, dẫn đến tình trạng mất cân đối nhân lực giữa các lĩnh vực (y tế chuyên sâu, công nghệ sinh học nông nghiệp và chuyển đổi số còn thiếu hụt);
  • Hoạt động tư vấn, phản biện xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật còn hình thức, chưa được cấp ủy tiếp thu thực chất;
  • Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nghị quyết về trí thức còn nặng về kiểm tra thủ tục đầu vào, chưa đánh giá dựa trên hiệu quả sản phẩm đầu ra.
  • Trong năm đầu vận hành sau ngày 01/7/2025, các cấp ủy mới gặp khó khăn trong việc tích hợp dữ liệu quản lý, đồng bộ hóa các chính sách đãi ngộ cũ của các địa phương trước khi hợp nhất.

Từ thực tiễn, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm về: đổi mới tư duy lãnh đạo; gắn kết chặt chẽ quy hoạch trí thức với chiến lược kinh tế vùng; nâng cao hiệu lực thể chế hóa của chính quyền và xác lập trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cấp ủy.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh, thành ủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đối với xây dựng đội ngũ trí thức đến năm 2030

Chương 4 dự báo 5 nhóm yếu tố tác động đến năm 2030 gồm: tác động từ các nghị quyết mới của Trung ương và Đại hội XIV; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số; cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các vùng; thách thức biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long; và yêu cầu hoàn thiện tổ chức sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu cho 5 tỉnh, thành ủy mới trong vùng:

  • Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy theo hướng quản trị dựa trên kết quả đầu ra, lượng hóa mục tiêu phát triển trí thức thành các chỉ tiêu kiểm tra cụ thể;
  • Lãnh đạo chính quyền rà soát, tích hợp và ban hành chính sách đồng bộ sau sáp nhập tỉnh, khắc phục tình trạng phân tán chính sách và thiếu thống nhất về chế độ đãi ngộ chuyên gia;
  • Xây dựng cơ chế tài chính linh hoạt, bảo đảm tự chủ học thuật và khuyến khích sáng tạo khoa học công nghệ, ưu tiên các đề tài thích ứng xâm nhập mặn, logistics và chế biến nông thủy sản giá trị cao;
  • Đổi mới cơ chế tiếp nhận, xử lý ý kiến tư vấn, phản biện và giám định xã hội của đội ngũ trí thức, ràng buộc trách nhiệm giải trình của các cơ quan tham mưu khi không tiếp thu ý kiến chuyên gia;
  • Thiết lập cơ chế phối hợp liên tỉnh giữa 5 tỉnh ủy, thành ủy trong vùng nhằm chia sẻ cơ sở dữ liệu chuyên gia dùng chung, phối hợp đặt hàng đào tạo và luân chuyển chuyên gia đầu ngành trong toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Một là, luận án xây dựng và vận dụng khung phân tích gồm 5 nội dung lãnh đạo, 5 phương thức lãnh đạo kết hợp với hệ thống 31 chỉ báo đánh giá định lượng; phân tích đối tượng nghiên cứu trong hai không gian hành chính: 13 tỉnh, thành phố trước sắp xếp và 5 tỉnh, thành phố sau sắp xếp, bảo đảm tính liên tục và giải quyết bài toán so sánh dữ liệu khi thay đổi địa giới và quy mô quản lý.
  • Hai là, làm sâu sắc thêm lý luận về nội dung, phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền ở cấp địa phương đối với một bộ phận lao động đặc thù là trí thức trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh và chuyển đổi số.

Về mặt thực tiễn:

  • Một là, nhận diện chính xác các điểm nghẽn thực tế: khoảng cách giữa việc ban hành chủ trương với kết quả thực hiện; sự mất cân đối giữa chỉ tiêu số lượng và cơ cấu chuyên gia chuyên sâu; cơ chế tiếp nhận và phản hồi ý kiến chuyên môn chưa thực chất; công tác kiểm tra còn mang tính thủ tục hành chính.
  • Hai là, cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm gồm 800 mẫu khảo sát hợp lệ tại 13 địa phương trước sáp nhập, phản ánh chân thực nhận thức của cán bộ lãnh đạo và tiếng nói của trí thức tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Ba là, đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi đến năm 2030 cho 5 tỉnh ủy, thành ủy hiện nay (An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long), trọng tâm là phương thức lãnh đạo dựa trên kết quả, tích hợp chính sách sau sáp nhập và liên kết mạng lưới chuyên gia liên tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Về phạm vi đối tượng: Luận án không nghiên cứu đội ngũ trí thức công tác trong các đơn vị lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Về phương pháp mẫu: Phương pháp chọn mẫu khảo sát xã hội học là phi xác suất, có chủ đích kết hợp phân bổ hạn ngạch, do đó số liệu chỉ phản ánh xu hướng, mô tả thực trạng và dùng để đối chiếu so sánh giữa hai nhóm người trả lời, không dùng để suy rộng thống kê ước lượng tham số cho toàn thể đội ngũ trí thức của vùng.
  • Về tính thời điểm dữ liệu sau sáp nhập: Giai đoạn vận hành của 5 tỉnh, thành phố mới chỉ được ghi nhận trong thời gian một năm (từ 01/7/2025 đến 30/6/2026), do đó các kết quả đánh giá mới dừng ở mức nhận diện bước chuyển tiếp ban đầu, chưa đo lường được toàn diện tác động dài hạn của việc sắp xếp tổ chức bộ máy.
  • Về địa giới so sánh: Số liệu của tỉnh Long An đã bị loại trừ trong các phân tích chuỗi thời gian so sánh kéo dài đến năm 2026 do địa phương này đã sáp nhập với Tây Ninh và chuyển thuộc vùng Đông Nam Bộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động trung hạn và dài hạn của mô hình quản trị 5 tỉnh, thành phố đối với sự dịch chuyển và phát triển của đội ngũ trí thức sau năm 2026.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang đội ngũ trí thức khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trí thức kiều bào gốc đồng bằng sông Cửu Long tham gia đóng góp cho vùng.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng:

  • Đối với cấp ủy và cơ quan tham mưu: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Văn phòng các tỉnh ủy, thành ủy tại 5 địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long trong việc tham mưu ban hành chỉ thị, nghị quyết chuyên đề và tích hợp các chính sách đào tạo, sử dụng nhân tài sau sáp nhập địa giới hành chính.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các Sở Nội vụ, Sở Khoa học và Công nghệ trong việc thiết kế cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, quy chế chi tiêu tài chính và chính sách đãi ngộ chuyên gia đầu ngành.
  • Đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu: Phục vụ giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực IV và hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phần đáng tham khảo nhất là khung 31 chỉ báo đánh giá phương thức lãnh đạo của cấp ủy và hệ thống giải pháp liên kết mạng lưới chuyên gia liên tỉnh cho 5 tỉnh, thành phố giai đoạn đến năm 2030.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân định phạm vi thời gian nghiên cứu và ba lớp phân tích như thế nào? Luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2020 đến ngày 30/6/2026, được cấu trúc thành ba lớp phân tích cụ thể: lớp thứ nhất là đánh giá thực trạng trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh kéo dài đến ngày 30/6/2025 (trên 13 địa phương); lớp thứ hai là phân tích quá trình chuyển tiếp, kiện toàn tổ chức, chính sách và cơ sở dữ liệu từ ngày 01/7/2025; lớp thứ ba là đánh giá kết quả bước đầu sau đúng một năm vận hành các đơn vị hành chính mới đến ngày 30/6/2026 (trên phạm vi 5 địa phương).

  2. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ ngày 01/7/2025 làm thay đổi không gian nghiên cứu của đề tài ra sao? Trước ngày 01/7/2025, không gian nghiên cứu gồm 13 tỉnh, thành phố cũ. Sau khi sắp xếp, không gian nghiên cứu thu gọn thành 5 tỉnh, thành phố mới: An Giang (hợp nhất An Giang và Kiên Giang), Cà Mau (hợp nhất Cà Mau và Bạc Liêu), Cần Thơ (hợp nhất Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng), Đồng Tháp (hợp nhất Đồng Tháp và Tiền Giang), Vĩnh Long (hợp nhất Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh). Địa bàn Long An sáp nhập vào Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ nên hoàn toàn bị loại khỏi phạm vi so sánh số liệu kéo dài đến năm 2026.

  3. Mẫu điều tra xã hội học bằng bảng hỏi của luận án được ti