Đảng Cộng Sản Việt Nam Lãnh Đạo Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức Từ Năm 2006 Đến Năm 2013

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức từ năm 2006 đến năm 2013, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2015

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG TRƯỚC NĂM 2006

1.1. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC CÁCH MẠNG

1.2. Quan niệm về trí thức

1.3. Khái quát nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức trong từng thời kỳ cách mạng

1.4. Một số hạn chế trong công tác xây dựng ĐNTT

1.5. Khái quát đội ngũ trí thức trong tiến trình cách mạng Việt Nam (1930-2006)

1.6. Đội ngũ trí thức từng bước trưởng thành, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của đất nước

1.7. Những hạn chế của ĐNTT

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (2006-2013)

2.1. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

2.2. Những yếu tố tác động đến chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức

2.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2006-2013)

2.4. Quá trình tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức

2.5. Công tác đào tạo và bồi dưỡng và sử dụng, phát triển đội ngũ trí thức

2.6. Công tác củng cố, xây dựng và phát triển hoạt động của các Hội trí thức trong cả nước

2.7. Chủ trương của Đảng về thu hút trí thức Việt kiều và trí thức người nước ngoài được chú trọng

2.8. Thực trạng của đội ngũ trí thức từ năm 2006 đến 2013

2.9. Đội ngũ trí thức từng bước trưởng thành đóng góp vào sự phát triển của đất nước

2.10. Những đóng góp của ĐNTT vào sự phát triển của đất nước

2.11. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. NHẬN XÉT CHUNG

3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.3. Xây dựng đội ngũ trí thức là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị

3.4. Chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo để tạo ra ĐNTT có trình độ cao

3.5. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với sử dụng; đãi ngộ, tôn vinh trí thức, nhân tài là chiến lược ưu tiên hàng đầu

3.6. Coi trọng phát huy dân chủ thực sự trong hoạt động sáng tạo của trí thức

3.7. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức Việt Nam 2006 2013

Giai đoạn 2006-2013 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ trí thức tại Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ vai trò của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ trí thức không chỉ là lực lượng sáng tạo mà còn là nhân tố quyết định trong việc phát triển kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc phát triển đội ngũ trí thức trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

1.1. Vai Trò Của Đảng Cộng Sản Trong Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức

Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trí thức là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp cách mạng. Các nghị quyết của Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển trí thức, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Đảng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm thu hút và phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức, từ đó tạo ra những bước tiến mới trong phát triển kinh tế.

1.2. Tình Hình Đội Ngũ Trí Thức Việt Nam 2006 2013

Trong giai đoạn này, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng. Nhiều trí thức đã đóng góp tích cực vào các lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, như việc nâng cao trình độ chuyên môn và cải thiện môi trường làm việc cho trí thức.

II. Những Thách Thức Trong Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức 2006 2013

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng việc xây dựng đội ngũ trí thức vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, sự phân bố không đồng đều giữa các vùng miền, và sự thiếu kết nối giữa các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ trí thức.

2.1. Thiếu Hụt Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong giới trẻ. Đảng đã nhận thức được vấn đề này và đã có những chính sách nhằm cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo.

2.2. Sự Phân Bố Không Đồng Đều Giữa Các Vùng Miền

Sự phân bố không đồng đều của đội ngũ trí thức giữa các vùng miền cũng là một thách thức lớn. Các vùng nông thôn và miền núi thường thiếu hụt trí thức, trong khi các thành phố lớn lại có sự tập trung cao. Điều này gây khó khăn trong việc phát triển đồng bộ và bền vững cho toàn quốc.

III. Phương Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức Hiệu Quả

Để xây dựng đội ngũ trí thức hiệu quả, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các chính sách về giáo dục và đào tạo, cũng như việc thu hút trí thức từ nước ngoài đã được triển khai mạnh mẽ. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển.

3.1. Chính Sách Giáo Dục Và Đào Tạo

Chính sách giáo dục và đào tạo đã được cải cách mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Các chương trình đào tạo được thiết kế lại để phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động, từ đó tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

3.2. Thu Hút Trí Thức Việt Kiều Và Người Nước Ngoài

Đảng đã chú trọng đến việc thu hút trí thức Việt kiều và người nước ngoài về làm việc tại Việt Nam. Các chính sách ưu đãi đã được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức trở về quê hương, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức trong nước.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Việc xây dựng đội ngũ trí thức không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy đội ngũ trí thức đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những ứng dụng thực tiễn từ các nghiên cứu đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

4.1. Đóng Góp Của Đội Ngũ Trí Thức Vào Phát Triển Kinh Tế

Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế thông qua việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ. Nhiều sản phẩm và dịch vụ mới đã được phát triển, giúp nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống

Các nghiên cứu và ứng dụng từ đội ngũ trí thức đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Những cải tiến trong lĩnh vực y tế, giáo dục và môi trường đã giúp cải thiện đời sống và tạo ra một xã hội phát triển bền vững.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Đội Ngũ Trí Thức Việt Nam

Kết luận, việc xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn 2006-2013 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai của đội ngũ trí thức phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư của Đảng và Nhà nước, cũng như sự tham gia tích cực của toàn xã hội.

5.1. Định Hướng Phát Triển Đội Ngũ Trí Thức Trong Tương Lai

Để phát triển đội ngũ trí thức trong tương lai, cần có những chính sách đồng bộ và hiệu quả. Việc nâng cao chất lượng giáo dục, tạo môi trường làm việc thuận lợi và khuyến khích sự sáng tạo là những yếu tố quan trọng.

5.2. Vai Trò Của Đảng Trong Xây Dựng Đội Ngũ Trí Thức

Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo trong việc xây dựng đội ngũ trí thức. Các chính sách và chương trình hành động cần được cụ thể hóa và thực hiện một cách hiệu quả để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức từ năm 2006 đến năm 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề một cách nghiêm túc về việc sử dụng trí thức đã làm việc dƣới chế độ cũ ở miền Nam: “Giúp anh chị em chóng trở thành những ngƣời trí thức xã hội chủ nghĩa” [21, tr.598] và “Về phần anh chị em trí thức, cần khắc phục những nhƣợc điểm nhƣ chủ quan, tự mãn, xa rời quần chúng, xa rời sản xuất, đánh giá không đúng mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể” [21, tr. Trên nền tảng quan điểm đó, công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ trí thức đƣợc thực hiện trên tinh thần đổi mới trong hệ thống giáo dục quốc dân, theo Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 11–1–1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, tiếp đó ngày 20- 4-1981, Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng ra Nghị quyết 37 về “chính sách khoa học và 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỹ thuật”, đề cập toàn diện nhiệm vụ, mục tiêu, chính sách khoa học, kỹ thuật, nguyên tắc, phƣơng châm lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết cũng nhấn mạnh khoa học xã hội phải góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc…. Cùng với Nghị quyết 37, Nhà nƣớc đã xác định 76 chƣơng trình tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kế hoạch 5 năm (1981 – 1985).

Đại hội V của Đảng (họp từ ngày 27 đến ngày 31 – 3 – 1982, tại Hà Nội) tiếp tục tƣ tƣởng của Đại hội IV là đẩy mạnh công tác khoa học, kỹ thuật. Trong 5 năm, kể từ Đại hội IV đến Đại hội V, số lƣợng trí thức tăng thêm 78%. Tính đến thời điểm năm 1982, cả nƣớc hiện có trên 260 nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học. Để phát huy đƣợc vai trò của trí thức, khoa học phát triển, tổ chức và quản lý trở thành vấn đề quan trọng.

Vì vậy, Hội đồng Bộ trƣởng đã có Nghị định số 51/HHĐBT, ngày 17-5-1983, nhấn mạnh: Kết hợp chặt chẽ KH-XH, KH-TN và KH-KT, tập trung lực lƣợng vào mục tiêu trọng điểm, tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần tích cực tổ chức lại sản xuất, đổi mới hệ thống quản lý khoa học. Đó là những định hƣớng, là cơ sở pháp lý rất quan trọng để xây dựng và phát huy mạnh mẽ vai trò, vị trí của trí thức dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Trong 5 năm, kể từ Đại hội IV đến Đại hội V, số lƣợng trí thức tăng thêm 78%. Tính đến thời điểm năm 1982, cả nƣớc hiện có trên 260 nghìn cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học.

Bƣớc sang thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ngày càng coi trọng vai trò và vị trí chính trị, xã hội của các hội trí thức, quan tâm xây dựng và phát triển các hội. Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, các hội từng bƣớc kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động, bảo đảm tính chất là những tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp độc lập, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Đại hội VI của Đảng đã ghi dấu mốc đổi mới toàn diện, trong đó, đã mở ra cho trí thức một hƣớng đi mới, thể hiện vấn đề dân chủ đối với trí thức, “Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo. Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện đƣợc sử dụng đúng và phát triển.

Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức ngày nay là những ngƣời lao động xã hội chủ nghĩa, đƣợc Đảng giáo dục và lãnh đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân” [12, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bƣớc sang Đại hội VII của Đảng, thành phần trí thức trong Đại hội chiếm đa số nhƣ trong 1176 đại biểu tham dự có 158 ngƣời là phó tiến sĩ, tiến sĩ, giáo sƣ cấp I, II. Số ngƣời đã qua đào tạo lý luận chính trị và quản lý kinh tế: 840 ngƣời chiếm 71,42%, trong đó đạt trình độ lý luận cao cấp là 257 ngƣời, chiếm tỷ lệ 21,85 %, đạt trình độ lý luận trung cấp: 461 ngƣời, chiếm tỷ lệ 39,2%; đã qua đào tạo quản lý kinh tế: 152 ngƣời, chiếm tỷ lệ 12, 93 %. Điều đó chứng tỏ trình độ trí thức trong Đảng đã đƣợc nâng lên rất nhiều so với những năm trƣớc đó, phản ánh quá trình nỗ lực học tập của các đảng viên.

Văn kiện Đại hội đánh giá cao những đóng góp của giới trí thức trong công cuộc đổi mới đất nƣớc. Trí thức là là lực lƣợng chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ.Việc đề cao vai trò, vị trí của trí thức cũng đƣợc khẳng định trong Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vai trò của giới trí thức đã quan trọng, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của giới trí thức ngày càng quan trọng. Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân công – nông không đƣợc nâng cao kiến thức, không dần dần đƣợc trí thức hóa thì không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa đƣợc” [13, tr. Đại hội VIII của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của nƣớc ta, quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc và tƣơng lai của đất nƣớc.

Đây là Đại hội mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là khâu đột phá trong tiến trình CNH, HĐH. Từ quan điểm: “Lấy việc phát huy nguồn lực con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [14, tr. Đại hội VIII đã xác định một nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ vững mạnh.

Phát hiện, bồi dƣỡng và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội và quản trị sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu trƣớc mắt và chuẩn bị cho bƣớc phát triển cao hơn sau năm 2000” [14, tr. Hội nghị Trung ƣơng 2, khóa VIII, ra Nghị quyết số 02–NQ/HNTW, ngày 24 – 12 – 1996 đã ra Nghị quyết“Về định hƣớng chiến lƣợc phát triển giáo dục – đào tạo 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” và Nghị quyết “Về định hƣớng chiến lƣợc phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, đặt vấn đề xây dựng những con ngƣời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa biết kế thừa, tiếp thu tinh hoa truyền thống dân tộc, vừa làm chủ tri thức và khoa học công nghệ hiện đại: “Xây dựng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội, có chí khí và hoài bão lớn, quan tâm đƣa đất nƣớc lên đến đỉnh cao mới. Phấn đấu đƣa số lƣợng cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ lên gấp rƣỡi so với hiện nay và nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ” [17, tr. Với nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển ĐNTT trên mọi lĩnh vực, ở cả trong và ngoài nƣớc của Đảng và Nhà nƣớc, ĐNTT đã không ngừng lớn mạnh về cả số lƣợng và chất lƣợng, đóng góp những vai trò quan trọng vào công cuộc đổi mới của đất nƣớc.

Tính đến ngày 31–12–1994, cả nƣớc có 2.412 nghiên cứu sinh (991 hệ tập trung, 933 hệ tại chức, 488 đào tạo ngắn hạn) và 4915 học viên cao học (3546 hệ tập trung, 1369 hệ tại chức) [1]. Đại hội lần thứ IX của Đảng (họp từ ngày 19 đến ngày 22–4–2001 tại Hà Nội) đặt vấn đề: “Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc” [19, tr.37] và “Đối với trí thức, tạo điều kiện thuận lợi để thu nhận thông tin, tiếp nhận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ và văn hóa thế giới, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn. Khuyến khích tự do, sáng tạo, phát minh cống hiến. Phát hiện bồi dƣỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng với các tài năng, phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các chƣơng trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nƣớc và xây dựng đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, pháp luật” [19, tr.

Nhất quán quan điểm đối với ĐNTT, văn nghệ sỹ, tại Đại hội IX, Đảng nêu rõ:“Chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của văn nghệ sỹ, nhất là những ngƣời cao tuổi, đãi ngộ thỏa đáng với văn nghệ sỹ tài năng. Chú trọng bồi dƣỡng, đào tạo thế hệ văn nghệ sỹ trẻ” [19, tr. Đảng chú trọng vào việc tăng ngân sách đầu tƣ cho phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa nghệ thuật. Đại hội IX nêu rõ: “Tăng cƣờng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tƣ cho ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ” [19, tr.

Hằng năm, Nhà nƣớc dành ít nhất 2 % cho ngân sách nhà nƣớc cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Quỹ phát triển khoa học công nghệ ở các bộ và các tỉnh, thành phố đƣợc xây dựng để đầu tƣ cho việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ của các ngành và địa phƣơng. Ngày 26 – 7 – 2002 của Hội nghị Trung ƣơng 6 ( Khóa IX) ra Kết luận số 14– KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII, phƣơng hƣớng phát triển GD-ĐT, KH-CN đến năm 2005 và đến năm 2010.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ