Tổng quan về giáo trình

Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (Tập 1) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành (in lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung vào tháng 8 năm 1999) là công trình học thuật do PGS, PTS. Trần Ngọc Đường chủ biên, cùng sự tham gia biên soạn của PTS. Nguyễn Văn Mạnh, PTS. Trình Đức Thảo, PTS. Lê Văn Hòe và Luật gia Trần Đình Quyết thuộc Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bộ giáo trình hoàn chỉnh bao gồm ba tập: Tập 1 trình bày lý luận chung về nhà nước và pháp luật; Tập 2 nghiên cứu bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tập 3 hệ thống hóa các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong chương trình đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành luật cũng như lý luận chính trị, môn học giữ vị trí lý luận cơ sở, cung cấp hệ thống phạm trù và phương pháp luận cho toàn bộ các khoa học pháp lý chuyên ngành.

Mục tiêu học tập của giáo trình nhằm trang bị cho người học tri thức khoa học về các quy luật phát sinh, phát triển và tiêu vong của nhà nước và pháp luật; bản chất, chức năng, hình thức biểu hiện của nhà nước và pháp luật qua các hình thái kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa; đồng thời xác lập phương pháp luận khoa học để tiếp cận các ngành luật thực định.

Cấu trúc giáo trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với các nghị quyết đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp năm 1992. Điểm đặc thù của tài liệu là phân định rõ vị trí của bộ môn trong hệ thống khoa học xã hội và khoa học pháp lý, đồng thời phân tích tính quy luật của nhà nước và pháp luật gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý nhà nước tại Việt Nam.

Nội dung kiến thức cốt lõi

Các chương/chủ đề chính

Nội dung giáo trình được triển khai theo tiến trình logic từ phương pháp luận nhận thức đến sự hình thành và bản chất của hiện tượng nhà nước và pháp luật:

  • Chương I: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Khảo sát vị trí của môn học với tư cách là một môn khoa học pháp lý độc lập. Chương này xác định nhà nước và pháp luật là các bộ phận của thượng tầng kiến trúc, chịu sự quyết định của cơ sở kinh tế và có sự tác động trở lại đối với kinh tế. Môn học có mối liên hệ mật thiết với Chủ nghĩa duy vật lịch sử (vận dụng các nguyên lý giai cấp và đấu tranh giai cấp), Kinh tế chính trị học (tiền đề kinh tế) và Chủ nghĩa xã hội khoa học (chiến lược cải tạo xã hội). Khoa học pháp lý được phân loại thành ba nhóm: nhóm các môn lý luận - lịch sử, nhóm các môn khoa học pháp lý cụ thể (ngành luật thực định), và nhóm các môn khoa học pháp lý ứng dụng (tâm lý học tư pháp, khoa học điều tra hình sự). Chương cũng xác định hệ thống phương pháp nghiên cứu gồm phép biện chứng duy vật, trừu tượng hóa khoa học, logic - lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp xã hội học và tâm lý xã hội; đồng thời làm rõ bốn khái niệm xuất phát: xã hội, quyền lực, quy phạm, chính trị; cùng tiến trình phát triển học thuyết qua các tác phẩm kinh điển (Hệ tư tưởng Đức, Sự khốn cùng của triết học, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nội chiến ở Pháp, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nhà nước và cách mạng, bài giảng Bàn về nhà nước, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh).

  • Chương II: Một số vấn đề lý luận chung về Nhà nước: Phân tích nguồn gốc và sự ra đời của nhà nước. Chương khảo lược các học thuyết phi Mác-xít (thuyết thần học, thuyết gia trưởng, thuyết khế ước xã hội của John Locke, Denis Diderot, thuyết bạo lực, thuyết tâm lý) và chỉ ra hạn chế duy tâm của các trào lưu này. Trên cơ sở đó, chương trình bày quan điểm duy vật lịch sử: nghiên cứu xã hội cộng sản nguyên thủy với chế độ sở hữu chung, nguyên tắc phân phối bình quân, tổ chức thị tộc (từ mẫu hệ chuyển sang phụ hệ), bào tộc, bộ lạc, quản lý thông qua Hội đồng thị tộc bằng quyền lực xã hội và tập quán, tín điều tôn giáo. Tiến trình tan rã của thị tộc được gắn với ba lần phân công lao động xã hội lớn: lần thứ nhất (chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, xuất hiện tư hữu và nô lệ ban đầu); lần thứ hai (thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, đồ sắt phát triển, sản xuất hàng hóa sơ khai); lần thứ ba (thương nghiệp xuất hiện cùng giai cấp thương nhân, tiền tệ, cho vay nặng lãi, cầm cố ruộng đất). Mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa dẫn tới sự ra đời của nhà nước với ba hình thức điển hình: Aten (phát sinh thuần túy từ nội bộ thị tộc), Rôma (kết quả cuộc đấu tranh của bình dân chống quý tộc), Giécmanh (chinh phục đất đai đế chế La Mã). Nhà nước được phân biệt với tổ chức thị tộc qua hai đặc trưng: phân chia dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt có bộ máy cưỡng chế (quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù) và hệ thống thuế khóa. Về bản chất, nhà nước là công cụ cưỡng chế đặc biệt của giai cấp thống trị, nắm giữ ba loại quyền lực: quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị và quyền lực tư tưởng, trong đó quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định.

  • Các chủ đề tiếp nối trong hệ thống lý luận: Giáo trình tiếp tục phân tích chức năng của nhà nước, các kiểu nhà nước trong lịch sử (chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa), hình thức nhà nước; nguồn gốc, bản chất, vai trò của pháp luật; các hình thức pháp luật và hệ thống pháp luật; quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật, thực hiện và áp dụng pháp luật, ý thức pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Kiến thức nền tảng được xây dựng

Giáo trình thiết lập các khối tri thức nền tảng:

  • Các lý thuyết căn bản (Fundamental theories): Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc, lý luận đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội, lý luận về sự tiêu vong của nhà nước khi các điều kiện giai cấp bị triệt tiêu.
  • Các nguyên lý cốt lõi (Core principles): Tính khách quan của sự hình thành nhà nước từ mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa; tính giai cấp kết hợp tính xã hội của nhà nước và pháp luật; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
  • Các khung phân tích thiết yếu (Essential frameworks): Khung phân định ba nhánh khoa học pháp lý; khung phân tích cấu trúc quy phạm pháp luật (giả định, quy định, chế tài); khung phân tích ba loại quyền lực thống trị (kinh tế, chính trị, tư tưởng); mô hình ba lần phân công lao động xã hội lớn làm nảy sinh chế độ tư hữu.

Kỹ năng phát triển

  • Kỹ năng kỹ thuật pháp lý (Technical skills): Nhận diện và bóc tách cấu trúc của các quy phạm pháp luật; phân biệt các hình thức văn bản quy phạm pháp luật; đối chiếu các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật và điều kiện làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp lý.
  • Kỹ năng phân tích (Analytical skills): Đánh giá bản chất các hiện tượng chính trị - xã hội dựa trên phương pháp duy vật lịch sử; phê phán có căn cứ khoa học các luận điểm duy tâm hoặc phiến diện về nguồn gốc và bản chất của nhà nước và pháp luật; phân tích mối quan hệ biện chứng giữa sự vận động kinh tế và sự biến đổi của thể chế pháp lý.
  • Năng lực thực tiễn (Practical competencies): Vận dụng các nguyên lý lý luận vào hoạt động quản lý nhà nước; tham gia đánh giá tác động của quy tắc xử sự đối với đời sống cộng đồng; phục vụ công tác xây dựng thể chế và cải cách thủ tục hành chính trong cơ quan công quyền.

Phương pháp giảng dạy và học tập

Giáo trình định hướng phương pháp sư phạm kết hợp chặt chẽ giữa lý luận trừu tượng và thực tiễn lịch sử cụ thể. Phương pháp giảng dạy chủ đạo là thuyết trình lý luận dựa trên phép biện chứng duy vật, kết hợp thảo luận các phạm trù khoa học thông qua phương pháp logic và phương pháp lịch sử. Giảng viên định hướng người học tiếp cận hiện tượng nhà nước và pháp luật trong sự vận động khách quan, gắn với các phương thức sản xuất vật chất.

Hệ thống bài tập và nghiên cứu trường hợp (case studies) trong môn học được xây dựng dựa trên các mốc biến cố lịch sử thế giới và Việt Nam:

  • Điển cứu về sự tan rã của chế độ thị tộc và quá trình hình thành ba nhà nước cổ đại: Aten, Rôma, và nhà nước của người Giécmanh.
  • Điển cứu về các bước ngoặt cách mạng: Cách mạng tư sản Pháp 1848, Công xã Pari 1871, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, Cách mạng Tháng Tám 1945 tại Việt Nam để phân tích sự thay thế giữa các kiểu nhà nước.
  • Thực hành phân tích cấu trúc hệ thống: mổ xẻ một quy phạm pháp luật thực định thành ba bộ phận (giả định, quy định, chế tài); so sánh quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác (đạo đức, tập quán, quy tắc tôn giáo).

Phương pháp đánh giá kết quả học tập tập trung vào mức độ hiểu biết bản chất khái niệm, khả năng vận dụng bốn khái niệm xuất phát (xã hội, quyền lực, quy phạm, chính trị) để luận giải các vấn đề pháp lý cụ thể, và năng lực làm rõ bản chất giai cấp của quyền lực nhà nước qua bài thi viết, tiểu luận và vấn đáp.

Về phương pháp tự học, giáo trình yêu cầu người học phải đọc trực tiếp các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh song song với nội dung từng chương; đồng thời nghiên cứu pháp luật trong trạng thái "động" thông qua thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật, tránh khuynh hướng nghiên cứu "tĩnh" chỉ đóng khung trong các văn bản công báo.

Điểm nổi bật và cập nhật

So với lần xuất bản thứ nhất vào tháng 9 năm 1998, bản in lần thứ hai (tháng 8 năm 1999) đã được tập thể tác giả chỉnh lý, bổ sung một số chi tiết và chương mục dựa trên căn cứ văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn phát triển thể chế:

  • Cập nhật quan điểm Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng: Quán triệt nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, mở rộng dân chủ, thiết lập kỷ cương, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
  • Tích hợp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Làm rõ định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Hiến pháp năm 1992.
  • Tiếp cận pháp luật trong điều kiện kinh tế thị trường nhiều thành phần: Nhấn mạnh mối quan hệ trực tiếp giữa pháp luật và các quan hệ kinh tế, thành phần sở hữu; khắc phục tính chất giáo điều, máy móc trong nhận thức về chức năng kinh tế của nhà nước.
  • Phát triển phương pháp tiếp cận đa ngành: Tích hợp phương pháp xã hội học và tâm lý học xã hội trong nghiên cứu pháp luật, xem xét pháp luật gắn liền với tâm lý xã hội và hành vi thực tế của cộng đồng dân cư thay vì thuần túy tiếp cận hình thức văn bản.

Đối tượng sử dụng giáo trình

Giáo trình được biên soạn phục vụ các nhóm đối tượng cụ thể trong hệ thống giáo dục đại học và đào tạo lý luận chính trị:

  • Sinh viên và học viên cao học: Dành cho sinh viên năm thứ nhất hoặc năm thứ hai chuyên ngành Luật học, Hành chính công, Quản lý nhà nước, Triết học và Xây dựng Đảng tại các trường đại học và học viện.
  • Học viên trường Đảng: Phục vụ các chương trình đào tạo trung cấp, cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội.
  • Điều kiện tiên quyết (Prerequisites): Để tiếp thu giáo trình, người học cần có kiến thức cơ bản về Triết học Mác - Lênin (đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử: quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc) và Kinh tế chính trị học (sản xuất hàng hóa, các quan hệ sở hữu).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu khung để thiết kế đề cương môn học, chuẩn hóa các thuật ngữ lý luận pháp lý, và định hướng phương pháp luận cho việc giảng dạy các bộ môn luật thực định (Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự).
  • Cán bộ thực tiễn: Dùng làm tài liệu tham khảo, tra cứu cho chuyên viên pháp chế, công chức tư pháp trong quá trình soạn thảo văn bản và áp dụng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Giáo trình này phù hợp với ai? Giáo trình phù hợp với sinh viên đại học ngành luật, học viên các trường Đảng, cán bộ công chức thuộc bộ máy quản lý nhà nước, cùng những người làm công tác nghiên cứu lý luận chính trị - pháp lý cần xây dựng phương pháp luận khoa học về nhà nước và pháp luật.

2. Cần kiến thức nền nào để học? Người học cần trang bị kiến thức nền tảng về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng các nguyên lý kinh tế chính trị học Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp.

3. Điểm khác biệt với giáo trình khác? Giáo trình do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, đặt trọng tâm vào mối liên hệ giữa lý luận chung Mác - Lênin với các quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI, VII, VIII, phục vụ trực tiếp cho định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính tại Việt Nam.

4. Làm sao để tự học hiệu quả? Người học cần đối chiếu các luận điểm trong giáo trình với các văn kiện kinh điển (Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nhà nước và cách mạng) và các văn bản lập pháp thực định (Hiến pháp năm 1992); đồng thời vận dụng phương pháp hệ thống để liên kết lý thuyết với thực tiễn quản lý xã hội.

5. Có tài liệu bổ trợ nào kèm theo? Đi kèm với Tập 1 là Tập 2 (Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Tập 3 (Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam) thuộc cùng bộ giáo trình, kết hợp với các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và các tập chuyên khảo lịch sử nhà nước và pháp luật.

Kết luận

Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (Tập 1) cung cấp hệ thống tri thức lý luận nền tảng về bản chất, chức năng và quy luật vận động của nhà nước và pháp luật trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bộ sách xác lập vai trò phương pháp luận cho việc nhận thức các ngành luật thực định và hoạt động quản lý nhà nước tại Việt Nam. Lộ trình học tập khoa học được đề xuất là tiếp cận từ lý luận cơ sở (Tập 1), nghiên cứu cơ cấu tổ chức quyền lực công quyền (Tập 2), trước khi đi sâu vào các ngành luật chuyên môn (Tập 3). Tài liệu tham khảo chủ yếu phục vụ học phần gồm các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiến pháp năm 1992 và các nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy nhà nước.