Chương I | NGUON Géc VA BAN CHAT CUA ; : NHÀ NƯỚC: -_ §I. NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC. Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp và đa dạng. Để có nhận thức đúng vê bản chất nhà nước cũng như những biến động trong đời sống nhà nước, cân lý giải đầy đủ hàng loạt vấn đê, trong đó nhất thiết phải làm sáng tö nguồn gốc hình thành nhà nước, chỉ ra những nguyên nhân đích thực làm xuất, hiện nhà nước.
Trong thực tế, ngay từ thời kỳ cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng từ những góc độ tiếp cận khác nhau đưa ra những kiến giải khác nhau-về nguôn gốc nhà nước. Các nhà tư tưởng theo thuvéf than hod cho tầng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, nhà mước là do thượng để sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy, nhà nước là lực lượng siêu nhiên và đương nhiên quyên lực nhà nước ‘lA vinh cttu va su phuc tung quyền lực này là cân thiết và tất yếu. Trong khi đó, những nhà tư tưởng theo .?huyế? gia trưởng) lại cố gắng chứng minh rằng nhà nước 1a két | qua sự phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy, nhà nước có trong mọi xã hội và quyên lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyên gia trưởng của người đứng đầu gia đình. khoảng thé ky 16, 17, 18 da xuat hién hang loat quan niệm mới vê ngưôn.
gốc nhà nước. Nhằm chống lại sự chuyên quyên độc đoán của nhà nước phong kiến, đòi hỏi sự bình dang cho giai cẤp tư sản trong việc tham gia nắm. lực nhà nước, nên đa số các học giả tư sản đều tán thành quan điểm cho rằng sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của một khế ước (hợp đồng) được ký kết trước hết là giữa nnhững: con người. sống trong trạng thái tự nhiên không ‹ có nhà nước.
Vì vậy, nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ. Tiều biểu cho £huyết khế ước xã hội (dựa trên cơ sở thuyết quyền tự nhiên) là các nhà tư tưởng tu san nhu Jean Bodin (1530-1596). Mạc dù khi phát triển quan niệm của mình, các nhà tư tưởng tư sản có các cách lý giải khác nhau về nội dung của khế ước, nhưng quan niệm của họ có nhiều điểm chung, đặc biệt là đều xuất phát từ luận đề chung về ngưồn gốc của nhà nước là khế ước xã hội. Vì vậy, chủ quyên trong nhà nước thuộc về nhân dân.
Theo Điđơrô, trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyên tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân 23 dân có. quyền lật đổ nhà nước và ky kết khẽ ước mới. Vi vậy, thuyết khế ước xã hội thực sự trở, thành cơ sở cho thuyết dân chủ cách mạng và cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản, lật đổ ách thống trị phong kiến. Với ý nghìa đó,n có tính cách mạng và giá trị lịch sư to lớn Nhưng học thuyết này vẫn có hạn chế căn bản vì vẫn giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm coi nhà nước thành lập do ý muốn, nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích được cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước.
Sau nay,ttrước những căn cứ khoa học và sự thật lịch su ngày càng có nhiều nhà tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thừa nhận rằng: nhà nước là sản. _phẩm của đấu tranh giai cấp, là thiết chế của xã hội có giai cấp và nhà nước đóng vai "trò đà cơ quan trọng tài đứng ra để điều hòa mâu thuẫn giai cấp. Ngoài ra, vẫn song song tôn tại và xuất hiện thêm những quan niệm tư sản tuy không phổ biển nhưng cũng cần tính đến. Chẳng hạn như quan niệm của (huyết bạo lực cho rằng nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo, lực của thị tộc này đôi với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng “nghĩ ra” một hệ thống cơ.
quan đặc biệt (nhà nước) để nô dịch kẻ chiến bại tđại diện của thuyết này là Gumplôvích, E. Hoặc các học giả (huyết tâm lý cho rằng: nhà nước xuất hiện do nhu câu về tâm lý của con người nguyên thủy luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo si. nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnh dạo xã hội (đại diện của thuyết này như L„ Petơrazitkil, Phoreder. Thậm chí ở đây đó còn tôn tại quan niệm “nhà nước siêu trải đất” giải thích sự xuất hiện xã hội loài người và nhà nước như là sự du nhập 24 via thu nghiệm những thành tựu của một nên van mình ngoài trái đất.
tẤt cả các quan điểm trên hoặc do nhận thức còn hạn chế nên không hiểu, hoặc do bị chỉ phối bởi lợi ích giai cấp nên cố tình giải thích sai những nguyên nhân đích thực làm phát sinh nhà nước, nhằm che dấu bản chất của sự vận động dẫn đến sản phẩm tất yếu là nhà nước. Đa số họ đều xem xét sự ra đời của nhà. nước tách tời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế, và chứng minh rằng nhà nước là một thiết chế phải có của mọi xã hội, một lực lượng cần thiết cho phép mọi người có thể tôn tại được, một trọng tài công minh từ ngoài áp đặt vào xã hội, đứng trên xã hội để giải quyết các tranh chấp nhằm duy trì xã hội trong tình trạng ốn định và phôn vinh. Theo họ, nhà nước không thuộc giai cấp nào, nhà nước là của tất cả mọi người và xã hội văn minh mai mai can cé nhà.
Khi nghiên cứu nguôn gốc của nhà nước. các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã chỉ ra rằng: nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là một phạm trù lịch sử. có quá-trình-phát sinh, phát triển và tiêu vong.
Nhà nước là lực lương nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện khí xã hội phát triển đến một mức độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tôn tại của nó mất đi. Những luận điểm quan trọng vê sự xuất hiện nhà nước đã được Ph.Ảngghen trình bây tập trung trong tác phẩm nổi tiếng “Nguôn gốc của gia đình, của chế độ tư bứu và của nhà nước”. sau này được Lênin bổ sung và phát triển thêm trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, Căn cứ khoa học cho các luận điểm này được hình thanh tren cd sd nghién cứu 'và: phân tích.
toàn bộ hiện thực lịch sư của xã hội loài người: lL. Chế độ cộng sản nguyên thủy và quyền lực thị Lộc Các nhà kính điển của chủ nghĩi Mác cho rằng, chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người, trong đó không tôn tại giai cấp và nhà nước. Trong chế độ cộng sản nguyên thủy, dø trình độ phát triển của lực lượng sản xuất rất thấp kém và tình trạng bất lực của con người trước thú dữ và những hiện tượng thiên nhiên. nên để kiếm sống và tự bảo vé minh, con người buộc phải co cụm lại, dựa vào nhau cùng chưng sống.
cùng lao động và dĩ nhiên cùng hưởng thụ những thành quả do lao động mang lại. Hoàn cảnh lao động và sinh hoạt khiến cho không ai có tài sản riêng, mặt khác, sản phẩm làm ra chỉ đủ nuôi sống con người một cách chật vật, không có dư thừa để tạo ra khả năng chiếm đoạt phần tài sản đó làm của riêng. Mọi tư liệu sản xuất và sản 'phẩm lao động đêu thuộc sở hữu chung của mọi thành viên trong cộng đồng. C Cơ sở “kinh để18 sduge đặc trưng bằng chế độ sở hữu chung | vềtư Tiệu sản xuất và sản 'phẩm lao động đã quyết định hình thức tổ chức và cách thức quan ly xã hội -của xã hội cộng sản nguyên thủy.
C8 chức xã hộ trong chế độ cộng sản nguyên thủy còn rất đơn giản. Tế bào đầu tiên và là cơ sở của xã hội là (h¿_ tộc, được tổ chức theo huyết. thong (lúc đâu huyết thống được xác lập theo dòng mẹ gọi là thị tộc mẫu hệ. về sau được xác lập theo dòng cha gọi là thị tộc phụ hệ).
Thị tộc là đơn vị kinh tế vừa sản xuất vừa tiêu dùng. Nền tảng vật chất của thị tộc là kinh tế tập thể dựa trên hoạt động sản xuất tập thể và quyên sở hữu chung của tất cả thành viên đối với tư liệu sản xuất và tài sản cua thị tộc. Mọi thành viên thị tộc đêu được tự do. có địa vị như.
nhau, không ai có đạc quyên đặc lợi, không có kẻ giàu người nghèo. Bình đăng là nguyên tắc xử sự cao nhất trong lao động cũng như trong phân phối sản phẩm. Trong thị tộc, đã có sự phân công lao động nhưng đó là sự phân công tự nhiên giữa các thành viên. thị tộc để thực hiện các loại công việc thích hợp khác nhau chứ không phải là sự phản công lao động xã hội xuât phát từ địa vị khác nhau của con người trong sản xuât và đời sống.
Thị tộc là hình thức tự quan, đầu tiên, ở mức độ thấp. Để tố chức và điều hành hoạt động xã hội. thị tộc cũng đã phải cân đến quyên lực và một hệ thống quan lỷ thực hiện quyên lực, tuy còn đơn giản. Hệ thống đó bao gồm : a Hội đồng thị tộc!- là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc.
Hội đông thị tộc bao gồm tất cả các thành viên đã trưởng thành của thị tộc. Hội đông có quyên bàn. bạc dân chủ và đưa ra những quyết định tập thể về tất cả những vấn đề quan trọng có liên quan đến thị tộc. Quyết định của hội đông thị tộc thể hiện ý chí của toàn bộ thành viên nên được mọi người tự giác chấp hành.
Trong trường hợp có cá nhân không thực hiện thì cá nhân đó phải chịu quyết định cưỡng chế #*:¡!ˆ,*hệ, thị tộc. bi Ti trong là người đứng đấu thị tộc: do hội nghị toàn. thế thị tộc bầu ra trong số những người nhiều tuổi. nhiều kinh nghiệm và có uy tín lớn nhất trong cộng đồng.
Tù trưởng không có đặc quyên nào so với các thành viên khác. Họ cũng phải lao động. thực hiện các nghĩa vụ đối với thị tộc. nhận phân hưởng thụ ngàng bằng như các thành viên khác.
Tù trương có quyên lực rất lớn.