Chương I của giáo trình này. Quyền lập pháp (xây dựng luật thường được thực hiện bởi cơ quan đại điện cho toàn thể cử tri và thường được gọi là Quốc hội hay Nghị viện. Quyền thi hành pháp luật do cơ quan đại diện ban hành thường được gọi là quyền hành pháp và cơ quan thực hiện quyền này có tên gọi phổ biến là Chính phủ. Quyền bảo vệ pháp luật thường được: gọi là.
quyển tư pháp và cơ quan thực hiện quyền này thường là Toà án. + Về cách thức thành lập, có những cách cơ bản như sau: Bầu và bầu cử là việc nhiều người hoặc toàn dân lựa chọn và trao quyền 1 cho một hoặc một số người giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước. Ví dụ: Nhân dân bầu các đại biểu Quốc hội ở Việt Nam, bầu Tổng thống ở MI. Bổ nhiệm là việc chọn một hoặc một số người giữ chức vu trong bộ máy nhà nước.
Ví dụ: Chủ tịch nước: Cong hoà xãhoi chủ nghĩa Việt Nam bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; Nữ hoàng Anh bổ nhiệm Thủ tướng. Thế tập là việc được thừa hướng tước vị, chức vụ do có cùng dòng tộc với nhà vua. Ví dụ: Elizabeth II kế vị vua George VI vào năm 1952, Bhumibol Adulyadej của Thái Lan kế vị ngai vàng sau khi anh của ông - vua Ananda Mahidol - mất năm 1946. | + Về trình tự thiết lập các cơ quan quyền lực nhà nước: Trình tự thiết lập cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương là nói đến các bước, các giai đoạn của quá trình thiết lập các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương.
Có hai loại trình tự phổ biến trong thực tiễn. 17 Loại thứ nhất, việc thiết lập các cơ quan quyền lực theo thứ tự trước sau và thành công trong việc thiết lập cơ quan trước mới có thể thiết lập được cơ quan sau. Ví dụ: Ở Việt Nam, Quốc hội được bầu ra trước. Sau đó, Quốc hội quyết định thành lập ra Chính phủ.
Cơ cấu, số lượng thành viên của Chính phủ do Quốc hội quy định. Loại thứ hai, việc thiết lập các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương độc lập với nhau, việc thiết lập cơ quan này không ảnh hưởng tới việc thiết lập cơ quan khác. | Vi du: O Mi, viéc bau Tổng thống không phụ thuộc vào việc bầu Quốc hội và ngược lại. ~ Thứ hai: Mối quan hệ giữa các cơ quan quyên lực nhà nước ở trung ương Theo nội dung và vị trí của các chủ thể, quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương có thể chia thành hai loại cơ bản.
Loại thứ nhất, quan hệ giữa các chủ thể ngang bằng về vị trí và do vậy nội dung quan hệ giữa chúng mang tính chất kiểm chế, đối trọng, giám sát lẫn nhau. Ví dụ: Quan hệ giữa Tống thống Mĩ và Quốc hội Mĩ là quan hệ giữa hai chủ thể cùng do dân bầu ra, địa vị ngang nhau. Nội dung quan hệ giữa hai chủ thể này là kiềm chế, đối trọng và kiếm soát lẫn nhau, không phụ thuộc vào nhau. Loại thứ hai, quan hệ giữa các chủ thể không ngang nhau về vị trí và do vậy | nội dung quan hệ giữa chúng mang tính chất thứ bậc, trên dưới, nhấn mạnh sự thống nhất về quyền lực.
| Ví dụ: Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền thành lập và bất tín nhiệm Chính phủ, Chính phú phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Đây là mối quan hệ trên dưới, chấp hành, theo đó Chính phủ phải phụ thuộc vào Quốc hội. — Thú ba: Sự tham gia của nhân dân uào việc tổ chức quyền lực nhà nước ở [rung ương Sự tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan nhà nước bằng bầu cử và cách thức xác định kết quả cũng rất khác nhau. Ví dụ: Ở Liên bang Nga, nhân dân trực tiếp bầu Quốc hội, bầu Tổng thống Liên bang, nhưng ở Cộng hoà Liên bang Đức, nhân dân chỉ bầu Quốc hội rihưng không bầu Tổng thống.
ỞMI, cử tri có thể bầu nhiều lần hơn so với ở Cộng hoà Liên bang Đức hoặc Vương quốc Anh. Chế độ bầu cử theo đa số có nghĩa là ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất là thắng cử trong khi chế độ bầu cử theo tỉ lệ đại diện xác định thắng cử phụ thuộc vào tỉ lệ số phiếu mà họ có được. Như vậy, cách thức, số lượng tham gia của nhân dân vào việc tổ chức bộ máy nhà nước thông qua bầu cử là một nội dung của khái niệm chính thể. Hình thành nên các cơ quan nhà nước như thế nào, những cơ quan này vận hành ra sao và cách thức thực hiện quyển lực trong mối quan hệ với nhân đân -18 (hình thức chính thể) là những nội dung đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
e Phân loại chính thể _. Cách phân loại hình thức chính thể phổ biến hiện nay dựa trên nguồn gốc quyền lực nhà nước và sự tham gia của nhân dân vào quyên lực nhà nước. Theo cách này, chính thể chia thành hình thức chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Quân chủ là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà nước được tập trung toàn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế.
Cộng hoà là hình thức theo đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Việt Nam là chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa, Thái Lan là chính thể quân chủ. Chính thể quân chủ được chia thành hai loại là quân chủ tuyệt đối (nhà vua nắm quyền lực vô hạn) và quân chủ hạn chế (nắm một phần quyền lực). @uân chủ hạn chế có thể chia làm hai loại: quân chủ đại nghị (nhà vua bị hạn chế bởi Nghị viện) và quân chủ lập hiến (nhà vua bị hạn chế bởi hiến pháp).
Ví dụ: Nhà nước trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam là quân chủ tuyệt đối, Vương quốc Anh là quân chủ đại nghị, Nhật Bản là quân chủ lập hiến. Cách phân loại hình thức chính thể cộng hoà hiện đại dựa trên vị trí, vai trò. và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương chia thành. ba loại cơ bản: cộng hoà tổng thống; cộng hoà, đại nghị và cộng hoà lưỡng Ì hệ.
_ Cộng hoà tổng thống có những đặc tính: (¡) Người đứng đầu hành pháp là. nguyên thủ quốc gia và được bầu phổ thông; (ïñ) Nhiệm kì của lập pháp và người đứng đầu hành pháp là xác định và không phụ thuộc vào sự tín nhiệm của nhau; (ii) Tổng thống thiết lập, điều hành Chính phủ; (iv) Thành viên của Chính phủ không đồng thời là thành viên của lập pháp. ‘Vi du: Hop chúng quốc Hoa Ki (Mỹ là chế độ cộng hoà tổng thống, theo đó Tổng thống được bầu phổ thông với nhiệm kì 4 năm, Tổng thống Mĩ không chịu trách nhiệm trước Quốc hội và không bị @uốc hội giải tán, Tổng thống Mi thành lập Chính phủ và các bộ trưởng không là thành viên của Quốc hội MI. Cộng hoà đại nghị có các đặc tính: (1) Người đứng đầu hành pháp, bao gồm cả Thủ tướng và Nội các, hình thành từ Nghị viện và là thành viên của Nghị vién; (ii) Hanh phap có thể bị giải tán bởi đa số trong Nghị viện, thông qua thú tục bỏ phiếu bất tín nhiệm; (ii) Vị trí nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu hành pháp là tách biệt; (iv) Lãnh đạo hành pháp mang tính tập thể trong đó Thủ tướng là người đứng đầu.
Ví dụ: Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Italia la chinh thể cộng hoà đại nghi. Chính phủ hình thành từ Nghị viện, chịu trách nhiệm trước Nghị viện và có thể bị Nghị viện 19 giải tán, nguyên thủ quếc gia là Tổng thống Joachim Gauck tách biệt với Thủ tướng Angela Merkel - người đứng đầu hành pháp. Cộng hoà lưỡng hệ có các đặc tính: (¡) Tổng thống được bầu phổ thông; (¡¡) Tổng thống có quyền hiến định rất lớn, là người đứng đầu hành pháp và nguyên thủ quốc gia; (ii) Thủ tướng và các bộ trưởng nắm quyển hành pháp và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Thực chất, chế độ này kết hợp những đặc tính của hai chế độ trên.
Những nước theo hình thức cộng hoà lưỡng hệ tiêu biểu: Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Pháp. Ví dụ: Tổng thống Cộng hoà Liên bang Nga do dân bầu, có quyển rất lớn và là nguyên thủ quốc gia, đứng đầu hành pháp. Thủ tướng Dmitry Medvedev nắm quyền hành pháp chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Hình thức cấu trúc e Khái niệm hình thúc cấu trúc Vì sự khác biệt về địa lí, thành phần cư dân, văn hoá, trình độ phát triển kinh tế.
hoặc lịch sử hình thành quốc gia, hầu hết các nhà nước được cấu thành từ những phần lãnh thổ với những bộ máy quản lí tại những bộ phận lãnh thể đó. Ví dụ: Lịch sử hình thành Hợp chúng quốc Hoa Kì tạo nên các tiểu bang trong nhà nước liên bang, nhưng với Việt Nam, việc chia toàn bộ quốc gia thành các tỉnh, thành phố và các cấp nhỏ hơn xuất phát từ yếu tố địa lí, văn hoá, cư dân, trình độ phát triển kinh tế với mục đích quản lí xã hội nhằm phát triển đồng đều và bình đẳng giữa những khu vực, bộ phận khác nhau. | Như vậy, hình thức cấu trúc là việc nhà nước được cấu thành từ những đơn vị hành chính lãnh thổ như tiểu bang, tỉnh, thành phố. hay chia thành các cấp với trật tự thứ bậc như thế nào và các bộ phận lãnh thổ đó quan hệ với nhau ra sao.
Ví dụ: Có nên chia thành các tiểu bang có chủ quyền độc lập hay chia thành các đơn vị hành chính như tỉnh, thành phố không có chủ quyền? Có thể nói, hình thức cấu trúc được hiểu là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương. © Phân loại hình thúc cấu trúc ~ Nhà nước liên bang | Những nhà nước liên bang điển hình như Hợp chúng quốc Hoa Kì được chia thành 50 tiểu bang với những hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước độc lập với nhau và độc lập với bộ máy nhà nước trung ương. Cộng hoà Liên bang Đức gồm 16 tiểu bang với những cơ quan nhà nước độc lập với chính quyển trung ương.