Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU Biển và kinh tế biển là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Những công trình nghiên cứu về kinh tế biển nói chung Kinh tế biển là lĩnh vực được nhiều người quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, từ vi trí vai trò của kinh tế biển đến tư duy làm kinh tế biển, thực trạng phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho xuất bản các công trình sách có liên quan đến kinh tế biển Việt Nam như: Tác giả Nguyễn Khắc Duật, Nguyễn An Bình với công trình: “Vận tải biển va các cảng biển trong sự thay đổi của hệ thống vận tải” năm 1986 [25]. Trương Toàn Thuyên có công trình: “Kinh tế vận tại biển” năm 1997 [119].
Các công trình trên đều đi vào phân tích thực trạng phát triển ngành hàng hải Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải biển, từ đó chỉ ra thách thức ma ngành này phải đối mặt và đưa ra một số gợi ý về mặt giải pháp cho sự phát triển kinh tế cảng biển của Việt Nam. Lê Cao Đoàn với công trình: “Đổi mới và phát triển kinh tế vùng ven biển” năm 1999 [45], trong công trình này tác giả nghiên cứu trường hợp đổi mới phát triển kinh tế vùng nước lợ của tỉnh Thái Bình như một thực tiễn sinh động cho quá trình phát triển kinh tế ven biển của các địa phương khác trong cả nước từ đó đưa ra những cách tiếp cận mới đối với việc khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế vùng ven biển đối với các địa phương có biển trong quá trình phát triển KT-XH. Tác giả Đào Mạnh Sơn với công trình: “Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ ở Việt Nam” năm 2005 [96]. Công trình đã phân tích các kết quả nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi thủy sản, đưa ra các hướng chọn lựa giải pháp công nghệ cho việc khai thác hải sản xa bờ hiệu quả, ôn định gan khai thác với bao vệ nguồn lợi và phát triển bền vững nghề cá.
Tác giả Nguyễn Văn Dé với công trình: “Kinh tế biển Việt Nam: Tiềm năng, cơ hội và thách thức” năm 2008 [46]. Công trình đã tập trung nghiên cứu những 12 tiềm năng trong phát triển kinh tế biển Việt Nam, thực trạng khai thác phát triển kinh tế biển. Phân tích những thách thức đặt ra đối với sự phát triển kinh tế biển Việt Nam, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển kinh tế biến theo Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2020. Tác giả Thế Đạt có công trình: “Nền kinh tế các vùng ven biển của Việt Nam” năm 2008 [44], công trình nghiên cứu hệ thống môi trường sinh thái biển và kinh tế ven biển các địa phương ở Việt Nam từ các tỉnh phía bắc như: Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh đến các tỉnh ven biển khu vực Nam bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu.
từ đó khái quát đặc điểm phát triển kinh tế vùng ven biển từ việc khai thác tiềm năng biển cho đến sự phát triển đến đặc điểm kinh tế - văn hóa vùng biên. Chu Đức Dũng với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một số nước Đông Á - tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam”, năm 2011 [26]. Công trình đã làm rõ chiến lược phát triển kinh tế Biển Đông của một số nước Đông Á trong đó đi sâu phân tích, so sánh các chiến lược của các nước và đánh giá tác động của việc thực hiện các chiến lược đó đối với khu vực và Việt Nam. Trên cơ sở phân tích những vấn đề đặt ra cho Việt Nam và đề xuất các giải pháp chính sách thực hiện và điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam đến năm 2020.
Phạm Nguyên Trường dịch công trình: “Sức mạnh biển đối với lịch sử thời kỳ 1660 — 1783” năm 2012 [156]. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển trở thành các cường quốc của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của biển đối với sự phát triển của các cường quốc nói trên. Trong đó tác giả viết: Sự ham muốn của loài người đối với biển là sự ham muốn vận chuyền, tức là buôn bán. Buôn bán trong bất kỳ thời đại nào cũng đều có thể trở nên giàu có, của cải là sự thể hiện sức mạnh của quốc gia, của cải có mối quan hệ chặt chẽ với biển ca và chinh phục biển cả trở thành điểm xung đột của tất cả những cuốc gia muốn trở nên giàu có, hùng mạnh.
Các quốc gia muốn giàu mạnh thì phải giành lay sự kiểm soát biển, phải giành lấy và giữ được quyền kiểm soát các tuyến giao thông biển huyết mạch liên quan đến ngoại thương và các lợi 13 ích khác của quốc gia mình. Muốn thế các nước phải xây dựng lực lượng hải quân và đội thương thuyền mạnh, cùng một mạng lưới các căn cứ địa vững chắc trên biển. Lịch sử phát triển của thế giới đã chứng minh, các cường quốc phát triển trên thé giới hầu hết đều hướng biên va khang định sức mạnh trên biển, sự mở rộng và phát trên lực lượng hải quân và các căn cứ quân sự trên biển hiện nay của các quốc gia ngày một gia tăng. Tác giả Lê Minh Thông với công trình: “Chính sách phát triển kinh tế ven biển Thanh Hóa” năm 2012 [103], công trình trình bày một cách có hệ thống những van dé lý luận chung về biển và kinh tế biển, kinh tế ven biển cũng như thực trang phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh Hoá, từ đó đưa ra những khuyến nghị quan trọng nhằm phát triển kinh tế ven biển Thanh Hóa cũng như kinh nghiệm hoạch định chính sách phát triển kinh tế ven biển ở các địa phương khác có điều kiện phát triển tương đồng.
Tác giả Ngô Lực Tải có công trình: “Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập” năm 2012 [94], công trình đã tập trung phân tích những vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam dưới nhiều chiều cạnh khác nhau đặc biệt trong lĩnh vực cảng biển, vận tải biển trong đó chỉ ra thực trạng phát triển một số ngành kinh tế thuộc kinh tế biển, phân tích làm rõ những thách thức mà kinh tế biển Việt Nam phải đối mặt trong thời kỳ hội nhập, từ đó tác giải cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm phát triển kinh tế biển tương xứng với tiềm năng của đất nước, góp phần vào sự nghiệp phát triển KT-XH đất nước. Nguyễn Ngọc Trường có công trình: “Vấn đề biển Đông” năm 2014 [157], trong đó tác giả khẳng định thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương, sự xuất hiện các cường quốc biên khiến cho van dé tự do và an toàn hàng hải được coi trọng. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong xu thế hợp tác luôn tiềm ân nguy cơ cạnh tranh, xung đột diễn ra gay gắt. Nước nhỏ có biến ra sức bảo vệ đường biên giới biển như là không gian sinh tồn của quốc gia.
Nước lớn tìm cách mở rộng ranh giới biển thông qua tranh chấp và xung đột dé tối đa hóa vùng lãnh hải phục vụ chiến lược cường quốc biển. Điều đó cho thấy, biển Đông là vùng biển giàu tiềm năng nhưng cũng là khu vực chứa đựng nhiều biến động và tiềm ân nguy cơ xung đột. 14 Những nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng cho Việt Nam hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển và ứng phó với những nguy cơ trong quá trình phát triển kinh tế biển. Tác giả Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Mạnh Dũng đồng chủ biên công trình: “Việt Nam truyền thống kinh tế - văn hóa biển” năm 2014 [64].
Trong công trình các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích lịch sử, truyền thống văn hóa, khai thác kinh tế biển của Việt Nam trong quá trình hình thành dân tộc, từ truyền thống khai thác biến, thích nghi với môi trường biển đến việc ban hành, thực thi chính sách quan lý biển đảo, bảo vệ các vùng đặc quyên kinh tế. tất cả đều cho thấy một truyền thống sông nước, truyền thống biển và hải thương của người Việt. Văn hóa biển là nét đặc trưng trong quá trình hình thành, phát triển và thích nghi với tự nhiên của người Việt, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm có tư duy hướng biển, khai thác tiềm năng biến dé phục vụ mục đích phát triển. Đặng Thị Huyền Trang sưu tầm, biên soạn công trình: “Các khu dich vụ du lịch biển, đảo vùng ven biển nước ta và chiến lược phát triển bền vững đến năm 2020” năm 2014 [151].
Trong công trình, tác giả giới thiệu khái quát các khu dich vụ du lịch vùng ven biển Việt Nam, những kết quả phát triển dịch vụ du lịch vùng ven biển và những hạn chế, yếu kém của các khu dịch vụ du lịch ven biển Việt Nam. Từ đó tác giả đưa ra gợi ý về giải pháp phát triển các khu dịch vụ du lịch ven biển theo hướng bền vững. Nhóm tác giả Vũ Lực, Tuỳ Phúc Dân, Trịnh Lỗi có công trình “Kinh tế Trung Quốc” năm 2010 [52], bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thị Thu Hằng. Trong công trình nhóm tác giả đã khái quát quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi thực hiện công cuộc cải cách mở cửa đến năm 2010, trong đó có phân tích chính sách phát triển kinh tế Trung Quốc, thực trạng phát triển kinh tế cũng như vị trí của kinh tế Trung Quốc trong khu vực và thế giới.
Trong quá trình xây dựng chính sách phát triển kinh tế, Trung Quốc quan tâm phát triển kinh tế khu vực ven biển, kinh tế đại dương, điều đó tác dộng nhất định đến sự phát triển của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam. Nhóm tác giả Bành Quang Khiêm, Triệu Trí Ấn, La Vĩnh có công trình 15 “Quốc Phòng Trung Quốc” năm 2010, bản dịch tiếng Việt của Trương Gia Quyên, Trương Lệ Mai. Trong công trình, nhóm tác giả phân tích chiến lược quân sự phòng vệ tích cực trên nên tảng chiến tranh nhân dân của Trung Quốc, quá trình cải cách, đổi mới quân sự mang đặc trưng Trung Quốc, trong đó có quá trình hiện đại hoá hải quân nhằm phục vụ mục đích phát triển của Trung Quốc, “hải quân là lực lượng chủ chốt tác chiến trên biển, nhiệm vụ chính là bảo vệ an ninh các tuyến đường trên biển của quốc gia, bảo vệ chủ quyền và lợi ích vùng biển” [87, tr.