Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010" do nghiên cứu sinh Ngô Bá Khiêm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Kim Đỉnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 (Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Mã số: 62 22 03 15).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Biển và kinh tế biển giữ vị trí chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia ven biển. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km và hơn 1 triệu km² thềm lục địa, giàu tiềm năng về dầu khí, hải sản, cảng biển và du lịch. Nhận thức rõ vai trò của biển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành các chủ trương quan trọng như Nghị quyết số 03-NQ/TW (ngày 06/05/1993), Chỉ thị số 20-CT/TW (ngày 22/09/1997) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
Quảng Ninh là địa bàn xung yếu ở vùng Đông Bắc, sở hữu 250 km bờ biển, hơn 6.000 km² mặt biển, trên 40.000 ha eo vịnh, có 2.077 hòn đảo (chiếm 11,5% diện tích tự nhiên của tỉnh và chiếm khoảng 2/3 tổng số đảo của cả nước). Tỉnh có 10/14 đơn vị hành chính giáp biển, bao gồm hai huyện đảo Vân Đồn, Cô Tô và các xã đảo xung yếu (Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Trà Cổ, Cái Chiên). Trước năm 1991, hoạt động kinh tế biển tại Quảng Ninh chủ yếu mang tính tự phát, phân tán, tập trung vào khai thác gần bờ với kỹ thuật lạc hậu; du lịch biển mới manh nha và hạ tầng cảng biển chưa được đầu tư tương xứng. Từ thập niên 1990, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng biển. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình khoa học nào phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đối với toàn bộ các ngành kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010; phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó nêu một số nhận xét và đúc rút kinh nghiệm lịch sử.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Làm rõ các yếu tố tác động, chi phối đến quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010.
- Phân tích những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010.
- Trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh chỉ đạo và kết quả thực hiện phát triển kinh tế biển trên các lĩnh vực từ năm 1991 đến năm 2010.
- Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến năm 2010, từ đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu vận dụng vào thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2010.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên 4 lĩnh vực kinh tế biển chủ yếu:
- Kinh tế hàng hải (kinh tế cảng biển, dịch vụ cảng, vận tải biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thủy).
- Kinh tế thủy sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản).
- Du lịch biển, đảo.
- Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo; gắn kết với bảo vệ môi trường sinh thái biển và giữ vững an ninh, chủ quyền biển đảo.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ninh (bao gồm dải đất liền ven biển, vùng biển nội thủy, lãnh hải và các huyện đảo, xã đảo).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX) đến năm 2010 (Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII). Luận án có sử dụng tư liệu trước năm 1991 và sau năm 2010 để so sánh, đối chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo hai nhóm chính:
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIỀN ĐỀ
NHÓM 1: KINH TẾ BIỂN NÓI CHUNG NHÓM 2: KINH TẾ BIỂN & SỰ LÃNH ĐẠO TẠI QUẢNG NINH
- Vận tải, cảng biển & quy hoạch vùng - Địa chí, lịch sử địa phương & tổng kết KT-XH
- Chiến lược biển, an ninh biển & kinh nghiệm quốc tế - Luận văn, luận án theo từng ngành chuyên biệt
1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế biển nói chung
- Về kinh tế vận tải biển và cảng biển: Nguyễn Khắc Duật và Nguyễn An Bình (1986) với Vận tải biển và các cảng biển trong sự thay đổi của hệ thống vận tải; Trương Toàn Thuyên (1997) với Kinh tế vận tải biển; Nguyễn Thị Thu Hà (2013) với luận án tiến sĩ Đầu tư phát triển cảng biển Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020; Nguyễn Thị Thơm (2015) với luận án Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế hàng hải từ năm 1996 đến năm 2011.
- Về kinh tế vùng ven biển, nghề cá và du lịch biển: Lê Cao Đoàn (1999) với Đổi mới và phát triển kinh tế vùng ven biển (nghiên cứu thực tiễn Thái Bình); Đào Mạnh Sơn (2005) với công trình nghiên cứu công nghệ khai thác hải sản xa bờ; Thế Đạt (2008) với Nền kinh tế các vùng ven biển của Việt Nam; Đặng Thị Huyền Trang (2014) khảo sát các khu dịch vụ du lịch biển đảo ven biển.
- Về tiềm năng, chiến lược và hội nhập quốc tế: Nguyễn Văn Đề (2008) với Kinh tế biển Việt Nam: Tiềm năng, cơ hội và thách thức; Chu Đức Dũng (2011) với đề tài cấp bộ về chiến lược phát triển kinh tế Biển Đông của các nước Đông Á; Ngô Lực Tải (2012) với Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập; Nguyễn Bá Ninh (2012) với luận án tiến sĩ kinh tế về kinh tế biển Nam Trung Bộ; Lại Lâm Anh (2013) nghiên cứu kinh nghiệm quản lý kinh tế biển từ Trung Quốc, Malaysia, Singapore.
- Về lịch sử, văn hóa, chủ quyền và an ninh biển: Phạm Nguyên Trường (2012, dịch phẩm) về sức mạnh biển giai đoạn 1660–1783; Lê Minh Thông (2012) về chính sách kinh tế ven biển Thanh Hóa; Nguyễn Ngọc Trường (2014) về vấn đề Biển Đông; Nguyễn Văn Kim và Nguyễn Mạnh Dũng (2014) với Việt Nam truyền thống kinh tế - văn hóa biển; Nguyễn Thị Anh (2012) nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ TP. Hải Phòng giai đoạn 1996–2010; Nguyễn Thanh Minh (2013) về chính sách biển Việt Nam 1986–2010; Nguyễn Đức Phương (2014) về sự lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ chủ quyền biển đảo 2001–2011.
- Tài liệu quốc tế: Nhóm tác giả Vũ Lực, Tùy Phúc Dân, Trịnh Lỗi (2010) với Kinh tế Trung Quốc; Bành Quang Khiêm, Triệu Trí Ấn, La Vĩnh (2010) với Quốc phòng Trung Quốc; Kwang Seo Park (2014) về dự báo kinh tế biển và kinh tế ven biển ở Hàn Quốc.
2. Nhóm các công trình liên quan trực tiếp đến tỉnh Quảng Ninh
- Công trình tổng kết lịch sử, kinh tế - xã hội: Hồng Hải và Nhị Giang (1991) với Quảng Ninh tiềm năng và triển vọng; Hà Văn Phàn, Anh Sửu, Nguyễn Minh Châu (1991) với Quảng Ninh trong sự nghiệp đổi mới; Ban Vật giá Chính phủ (2001) với Thế và lực Quảng Ninh trước thềm thế kỷ XXI; Nguyễn Hồng Phong và GS. Vũ Khiêu (2002) đồng chủ biên Địa chí Quảng Ninh tập 2; Đỗ Văn Ninh (2004) với Thương cảng Vân Đồn; Tổng công ty Than Việt Nam (2004) tổng kết 15 năm Công ty cảng & kinh doanh than; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh (2010) với Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tập IV (1975 – 2005); Phạm Minh Chính, Đỗ Thị Hoàng, Nguyễn Văn Đọc (2013) với Quảng Ninh 50 năm hội tụ & lan tỏa; Nguyễn Văn Kim (2014) với chuyên khảo Vân Đồn – Thương cảng quốc tế của Việt Nam.
- Luận văn, luận án theo các lĩnh vực chuyên biệt: Hoàng Minh Quang (2006, Luận án TS Địa lý về cơ cấu lãnh thổ kinh tế Quảng Ninh); Nguyễn Thị Trang (2011, Luận văn ThS Lịch sử về lãnh đạo kinh tế du lịch 1996–2009); Trần Xuân Ảnh (2011, Luận án TS Kinh tế về thị trường du lịch Quảng Ninh); Nguyễn Thị Thu Hiền (2012, Luận văn ThS Lịch sử về chuyển dịch cơ cấu kinh tế); Vũ Thị Hạnh (2012, Luận án TS Địa lý về tiềm năng du lịch biển đảo); Lưu Thị Thu (2013, Luận văn ThS Lịch sử về kinh tế thủy sản 1996–2010); Trần Quang Thái (2015, Luận văn ThS Quản lý kinh tế về khai thác thủy sản bền vững); Hà Văn Hòa (2015, Luận án TS Quản lý nhà nước về môi trường biển ven bờ); Châu Quốc Tuấn (2016, Luận án TS Quản lý kinh tế về du lịch vịnh Bái Tử Long).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định: Các công trình trên tiếp cận kinh tế biển Quảng Ninh chủ yếu dưới góc độ địa lý, kinh tế học, quản lý nhà nước hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng ngành (thủy sản, du lịch, môi trường). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đối với toàn bộ các ngành kinh tế biển trong giai đoạn 1991–2010, phân tích tiến trình xây dựng và chỉ đạo thực hiện chủ trương, làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ môi trường sinh thái và quốc phòng an ninh, từ đó tổng kết bài học kinh nghiệm lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung khái niệm
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối phát triển kinh tế biển của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội toàn quốc (từ Đại hội VII đến Đại hội XI) và các nghị quyết chuyên đề (Nghị quyết 03-NQ/TW năm 1993, Chỉ thị 20-CT/TW năm 1997, Nghị quyết số 09-NQ/TW Hội nghị TW 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020).
- Khái niệm công cụ: Luận án xác định kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế ven biển liên quan trực tiếp đến khai thác biển. Khung phân tích bám sát 4 nhóm lĩnh vực trọng tâm do Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh xác định: (1) Kinh tế hàng hải; (2) Kinh tế thủy sản; (3) Du lịch biển, đảo; (4) Khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo gắn với quốc phòng, an ninh và môi trường biển.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính phổ quát của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 nhằm phục dựng tiến trình ra đời các chủ trương, quyết định lãnh đạo và hoạt động chỉ đạo thực tế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh theo trình tự thời gian từ năm 1991 đến năm 2010.
- Phương pháp logic: Sử dụng xuyên suốt, đặc biệt trong Chương 4 để phân tích các mối liên hệ bản chất, xâu chuỗi sự kiện, khái quát hóa các ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện; phương pháp so sánh (giữa các giai đoạn 1991–2000 và 2001–2010, giữa Quảng Ninh và các địa phương tương đồng); phương pháp khảo sát thực tế tại các địa bàn ven biển và huyện đảo của tỉnh.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (Chỉ thị 399/TTg năm 1993, Chỉ thị 171/TTg năm 1995).
- Hệ thống văn kiện lưu trữ của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, IX, X, XI, XII; các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh (như Nghị quyết số 02/NQ-TU ngày 14/03/1987, các nghị quyết chuyên đề về kinh tế biển).
- Tài liệu báo cáo, số liệu thống kê từ Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Thủy sản, Sở Du lịch, Sở Giao thông Vận tải và Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh.
- Sách chuyên khảo, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo và các luận án, luận văn liên quan đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kinh tế biển và tỉnh Quảng Ninh, chia thành 2 tiểu mục lớn (công trình về kinh tế biển nói chung và công trình về kinh tế biển/sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh). Tác giả khái quát các thành tựu mà giới nghiên cứu đã đạt được về tiềm năng địa lý, kinh tế học cảng biển, du lịch, nguồn lợi sinh vật biển; đồng thời xác định rõ việc phục dựng có hệ thống quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế biển giai đoạn 1991–2010 là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học mới của luận án.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2000
Chương 2 phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng bộ tỉnh, quá trình ban hành chủ trương và kết quả thực hiện trong giai đoạn đầu đổi mới:
- Điều kiện tự nhiên và hạ tầng tiền đề: Bờ biển 250 km; 43.093 ha rừng ngập mặn và bãi triều; 5.300 ha đất tuyến cao triều có khả năng nuôi tôm công nghiệp; 21.800 ha bãi cồn rạn nuôi nhuyễn thể; vịnh Hạ Long và Bái Tử Long kín gió với 1.553 km²; vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm quốc gia. Về hạ tầng giao thông, toàn tỉnh có 5 tuyến quốc lộ (381 km), 12 tuyến đường tỉnh (301 km), 96 bến thủy nội địa (642 km đường thủy), 5 cảng biển (9 khu bến) và 65 km đường sắt quốc gia tuyến Kép – Hạ Long. Dân số toàn tỉnh năm 1995 đạt 941.000 người, đến năm 2000 đạt 1.000.000 người.
- Chủ trương và chỉ đạo phát triển kinh tế thủy sản: Chuyển từ nghề cá ven bờ sang hỗ trợ phát triển nghề cá nhân dân kết hợp quốc doanh; khuyến khích đóng mới tàu thuyền vươn khơi gắn với bảo vệ chủ quyền lãnh hải; áp dụng thâm canh nuôi trồng thủy sản; hiện đại hóa cơ sở chế biến quốc doanh để hướng tới xuất khẩu. Đại hội X (1996) đặt mục tiêu đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đến năm 2000 giá trị kim ngạch đạt 10 triệu USD.
- Chủ trương và chỉ đạo phát triển du lịch biển: Tận dụng sự kiện vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới để mở rộng liên doanh quốc tế; hình thành tuyến du lịch động lực Bãi Cháy – Trà Cổ, kết nối vùng phụ cận Cẩm Phả, Vân Đồn, Yên Hưng; đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch.
- Chủ trương phát triển hàng hải và công nghiệp đóng tàu: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng cảng nước sâu Cái Lân; xây dựng các cảng vệ tinh phụ trợ (Mũi Chùa, Cô Tô, Vạn Gia, Ghềnh Võ); củng cố lực lượng vận tải sông biển; đầu tư hoàn thiện Nhà máy đóng tàu Hạ Long, tổ chức lại các xí nghiệp cơ khí sửa chữa tàu thuyền địa phương.
- Phát triển khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo: Tập trung các dự án trọng điểm gồm Khu công nghiệp Cái Lân, Hoành Bồ, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái; đầu tư hệ thống điện lưới và công trình hạ tầng phục vụ sinh hoạt, sản xuất tại huyện đảo Ba Chẽ, Cô Tô, Vân Đồn.
CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ BIỂN TRỌNG TÂM TẠI QUẢNG NINH (1991–2000)
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3 trình bày sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng:
- Bối cảnh mới và chủ trương nâng cấp: Đảng bộ tỉnh quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa X (Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020), xác định đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển vững mạnh ở phía Bắc.
- Đẩy mạnh kinh tế hàng hải: Tập trung nguồn lực xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm hàng hải của cả nước; mở rộng cụm cảng Cái Lân, phát triển dịch vụ logistics, hệ thống kho bãi, nâng cao tải trọng đón tàu container quốc tế; nâng cao năng lực đóng mới tàu biển trọng tải lớn phục vụ vận tải nội địa và xuất khẩu.
- Đẩy nhanh tốc độ phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo: Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch Khu kinh tế Vân Đồn theo mô hình khu kinh tế tổng hợp hướng tới đặc khu kinh tế; phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và các khu công nghiệp ven biển phụ trợ (Hải Yên, Việt Hưng, Quán Triều, Đầm Nhà Mạc).
- Đẩy mạnh phát triển du lịch biển: Xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm du lịch biển tầm cỡ quốc gia và quốc tế; mở rộng không gian du lịch sang vịnh Bái Tử Long, huyện đảo Cô Tô, các bãi tắm Vân Đồn (Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng); kết hợp du lịch sinh thái biển với du lịch văn hóa, lịch sử và ẩm thực hải sản.
- Phát triển kinh tế thủy sản: Xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm nghề cá lớn của vùng vịnh Bắc Bộ; tổ chức lại các mô hình hợp tác xã đánh bắt xa bờ; đầu tư xây dựng các âu thuyền, bến cá, khu dịch vụ hậu cần nghề cá tập trung; quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (nhuyễn thể, tôm cá lồng bè); quản lý nghiêm ngặt việc cấm đánh bắt mang tính hủy diệt môi trường.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và môi trường: Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển; chỉ đạo giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường biển do khai thác than và hoạt động du lịch gây ra; tăng cường công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng phục vụ kinh tế biển (thông qua Đại học Hạ Long và các trường nghề của tỉnh).
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh qua 20 năm (1991–2010):
1. Nhận xét về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
- Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã sớm nhận thức được vị trí, tiềm năng của biển; ban hành các chủ trương, nghị quyết sát hợp với đặc điểm địa phương; huy động được các nguồn lực xã hội và nguồn vốn đầu tư trong, ngoài nước để phát triển hạ tầng kinh tế biển; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực từ nâu sang xanh, nâng cao đời sống của nhân dân ven biển và hải đảo.
- Hạn chế: Quy hoạch phát triển kinh tế biển ở một số nơi còn thiếu tính đồng bộ; việc đầu tư cho hạ tầng nghề cá và chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng ô nhiễm môi trường biển cục bộ do hoạt động khai thác than và du lịch chưa được xử lý dứt điểm; chất lượng nguồn nhân lực kinh tế biển còn thiếu lao động kỹ thuật cao.
- Nguyên nhân: Do xuất phát điểm kinh tế thấp; nguồn ngân sách địa phương có hạn; cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về biển ở cấp Trung ương thời kỳ đầu còn phân tán; sự phối hợp giữa các ban, ngành và doanh nghiệp trung ương trên địa bàn có lúc chưa chặt chẽ.
2. Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử
- Kinh nghiệm 1: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh phải xác định rõ vai trò, vị trí chiến lược của kinh tế biển trong toàn bộ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh qua từng thời kỳ lịch sử.
- Kinh nghiệm 2: Lãnh đạo phát triển kinh tế biển một cách toàn diện, nhưng phải luôn xác định đúng các ngành trọng tâm, trọng điểm (hàng hải, du lịch, thủy sản và kinh tế đảo) để tập trung nguồn lực đầu tư dứt điểm.
- Kinh nghiệm 3: Luôn kết hợp chặt chẽ giữa lãnh đạo phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền lãnh hải và bảo tồn tài nguyên, môi trường sinh thái biển.
- Kinh nghiệm 4: Thường xuyên nâng cao vai trò lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện của các tổ chức cơ sở đảng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực chuyên sâu trong lĩnh vực kinh tế biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới của luận án
Theo công bố của tác giả, luận án mang lại 4 đóng góp khoa học chính:
- Làm rõ yếu tố tác động và yêu cầu khách quan: Phân tích, luận giải sâu sắc các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh và các chủ trương của Đảng tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1991–2010.
- Phục dựng tiến trình lịch sử có hệ thống: Tái hiện toàn diện, chi tiết quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh ban hành chủ trương, tổ chức chỉ đạo và các kết quả đạt được trên từng lĩnh vực kinh tế biển (hàng hải, du lịch, thủy sản, khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo).
- Tổng kết lý luận và thực tiễn lịch sử: Đưa ra hệ thống nhận xét khách quan về ưu điểm, khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học từ thực tiễn lãnh đạo kinh tế biển của tỉnh.
- Cung cấp tài liệu khoa học và gợi mở chính sách: Luận án là nguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh; cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn giúp cấp ủy, chính quyền địa phương tham khảo trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển bền vững.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu lịch sử
Từ việc nghiên cứu giai đoạn 1991–2010, tác giả đề xuất một số định hướng vận dụng:
- Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch không gian biển bền vững, tránh chồng chéo giữa bảo tồn di sản cảnh quan thiên nhiên và phát triển công nghiệp cảng biển, khai khoáng.
- Ưu tiên nguồn vốn đầu tư hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ và dịch vụ hậu cần nghề cá đồng bộ tại các trung tâm Cô Tô, Vân Đồn.
- Đổi mới cơ chế thu hút đầu tư vào Khu kinh tế Vân Đồn và Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái để tạo sức lan tỏa cho kinh tế toàn vùng Đông Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng vào quá trình hoạch định đường lối, sự chỉ đạo và các mốc sự kiện chính trị - xã hội; do đó không đi sâu phân tích các chỉ số tài chính, mô hình kinh tế lượng hoặc các tham số kỹ thuật chuyên sâu về sinh học biển và hải dương học. Về thời gian, luận án giới hạn mốc khảo sát chính đến năm 2010.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW (Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghiên cứu đối sánh mô hình lãnh đạo phát triển kinh tế biển giữa Quảng Ninh và các tỉnh, thành phố ven biển khác thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (như Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình).
Giá trị tham khảo
Luận án là công trình tổng kết lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Địa lý kinh tế, Quản lý biển đảo; có thể tham khảo khung phân tích lịch sử ngành kinh tế tổng hợp và hệ thống tài liệu thư mục gồm hơn 190 công trình, văn kiện.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Giảng dạy môn Lịch sử Đảng bộ địa phương tại các trường đại học, trường chính trị tỉnh Quảng Ninh và các viện nghiên cứu lịch sử, kinh tế.
- Cán bộ lãnh đạo, người làm chính sách: Các cấp ủy Đảng, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh; đặc biệt là nội dung Chương 4 với các bài học kinh nghiệm về kết hợp kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền và xử lý môi trường sinh thái.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định kinh tế biển Quảng Ninh gồm những lĩnh vực cụ thể nào?
Dựa trên Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biển Việt Nam của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, luận án xác định kinh tế biển tỉnh gồm 4 lĩnh vực chính: (1) Kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển, đóng và sửa chữa tàu thủy); (2) Du lịch biển; (3) Kinh tế thủy sản (nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản); (4) Phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển và kinh tế đảo.
2. Tiềm năng tự nhiên nổi bật nào của Quảng Ninh được luận án nêu ra để phát triển nuôi trồng thủy sản và cảng biển?
Quảng Ninh có 250 km bờ biển, hơn 6.000 km² mặt biển, 43.093 ha rừng ngập mặn và bãi triều, 5.300 ha đất cao triều nuôi công nghiệp, 21.800 ha bãi cồn rạn. Khu vực vịnh Hạ Long và Bái Tử Long rộng 1.553 km² kín gió, có nhiều rạn san hô thích hợp nuôi nhuyễn thể (tu hài, ngọc trai, hàu). Về cảng biển, bờ biển có nhiều vũng vịnh nước sâu kín gió (như khu vực Cái Lân) cho phép đón tàu trọng tải lớn.
3. Mục tiêu cụ thể của ngành thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1996–2000 được Đảng bộ tỉnh xác định ra sao?
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X (năm 1996) xác định phát triển nghề cá toàn diện giữa đánh bắt, nuôi trồng và chế biến; chuyển mạnh hướng khai thác ra tuyến khơi gắn với bảo vệ chủ quyền biển; đưa ngành thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn và phấn đấu đến năm 2000 kim ngạch thu từ thủy sản đạt 10 triệu USD.
4. Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử mà luận án đúc kết được là gì?
Luận án rút ra 4 kinh nghiệm: (1) Xác định rõ vai trò, vị trí chiến lược của kinh tế biển trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; (2) Lãnh đạo phát triển kinh tế biển toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm; (3) Phát triển kinh tế biển gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái; (4) Thường xuyên nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, năng lực cán bộ và chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành biển.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?
Luận án sử dụng hai phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử (dùng để phục dựng tiến trình ra đời chủ trương và chỉ đạo thực tiễn trong Chương 2 và Chương 3) và phương pháp logic (dùng để xâu chuỗi sự kiện, phân tích ưu hạn chế và đúc kết kinh nghiệm trong Chương 4), kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Bá Khiêm là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế biển trong giai đoạn 1991–2010. Bằng việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic dựa trên nguồn tư liệu văn kiện phong phú, tác giả đã tái hiện bức tranh toàn diện về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển từ tự phát sang phát triển đồng bộ trên các lĩnh vực hàng hải, du lịch, thủy sản và khu kinh tế ven biển. Bốn bài học kinh nghiệm lịch sử được đúc kết từ luận án không chỉ phản ánh quy luật phát triển đặc thù của tỉnh Quảng Ninh trong 20 năm đổi mới mà còn cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển bền vững hiện nay.