đặt vấn đề và có hƣớng gởi mở cho chúng ta những vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, trong đó, có vấn đề về công tác quản lý. Trong chƣơng trình biển, đảo quốc gia, Đảng và Nhà nƣớc cũng giành nhiều sự quan tâm đến các hoạt động nghiên cứu khoa học. Cụ thể là đã thông qua việc thực hiện Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nƣớc với tên gọi “Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển”, mã số KC09/11-15, do GS. Trần Nghi làm chủ nhiệm.
Đây là một chƣơng trình nghiên cứu rộng, có mục tiêu là xây dựng luận cứ khoa học phục vụ quy hoạch, quản lý, khai thác tài nguyên biển đảo, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nƣớc. Giai đoạn 2011 - 2015, có 27 đề tài, dự án cấp Nhà nƣớc đã đƣợc phê duyệt trong khuôn khổ Chƣơng trình KC09/11-15. Nội dung nghiên cứu của các đề tài trên bao gồm nhiều lĩnh vực liên quan nhƣ: địa chất địa vật lý biển; địa chất dầu khí; công trình biển; khí tƣợng-thủy văn-vật lý biển, trắc địa biển; ngƣ trƣờng và hải sản; hệ sinh thái và môi 8 z trƣờng biển; quản lý, quy hoạch không gian biển đảo; xây dựng cơ sở pháp lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh Chƣơng trình KC09.01 còn có Chƣơng trình KC09.24 về “Cơ sở khoa học và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông trước yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc” và Chƣơng trình KC.25 về “Vai trò và khả năng sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyển của Việt Nam trên Biển Đông”.
Các nghiên cứu nói trên đều nhằm mục đích xây dựng cơ sở khoa học phục vụ cho việc xây dựng hệ luận cứ pháp lý về đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam và nêu ra các giải pháp pháp lý của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Một số nghiên cứu gần đây của các tác giả nhƣ Phan Ngọc Mai Phƣơng, Hồ Công Hƣờng, Nguyễn Văn Vinh (2014) đã nêu lên những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý kinh tế biển tại một số khu vực của nƣớc ta. Những nghiên cứu này chỉ rõ, hoạt động kinh tế vùng ven biển chƣa phát triển mạnh, công tác đầu tƣ cho phát triển kinh tế vùng ven biển còn dàn trải, quy mô đầu tƣ chƣa tƣơng xứng với tiềm năng. Kinh tế thủy sản còn gặp nhiề u rủi ro và thiếu tính bền vững, tàu thuyền phổ biến là vỏ gỗ, máy cũ, trang bị lạc hậu và khả năng vƣơn khơi còn yếu.
Ngành dầu khí có xu hƣớng chững lại, ngành vận tải biển và dịch vụ vận tải biển chƣa phát huy thế mạnh, năng lực dịch vụ cảng còn yếu, kết cấu còn thấp. Du lịch biển đang trong giai đoạn đầu tƣ hạ tầng dịch vụ, tại nhiều vùng mức đầu tƣ chƣa tƣơng xứng với tiềm năng. Chƣa thành lập đƣợc Đặc khu hành chính-kinh tế mang tầm quốc tế, việc phát triển các KKT ven biển còn dàn trải, chƣa xứng tầm. KCN đầ u tƣ chƣa nhiều, hiệu quả sử dụng đất thấp, cơ chế , chính sách khuyến khích đầu tƣ chƣa đ ủ mạnh, chƣa đa ̣t tầ m khu vƣ̣c ; an sinh xã hội trong các khu công nghiệp chƣa đƣợc giải quyết thỏa đáng.
9 z Một số nghiên cứu khác gần đây cũng nghiên cứu những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý phát triển kinh tế biển tại Việt Nam, để từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững rất đáng quan tâm. Trƣơng Minh Tuấn (2014), TS. Hồ Văn Hoành (2014) đã gợi ý nhiều giải pháp rất đáng quan tâm để tháo gỡ các khó khăn, vƣớng mắc trong việc nâng cao công tác quản lý nhà nƣớc về phát triển kinh tế biển. Trong đó, giải pháp đề xuất về việc xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển là rất đáng quan tâm.
Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế biển tại thành phố Hải Phòng, các tác giả cũng rất chú trọng nêu bật các nét đặc thù, tiềm năng, thế mạnh của Hải Phòng đối với phát triển kinh tế biển. Tác giả Trần Minh Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, (2011) phân tích về vị trí của Hải Phòng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ phát triển năng động, nhất là về phát triển kinh tế biển, với 126km bờ biển và hơn 4.000km2 diện tích mặt biển. Cảng Hải Phòng đƣợc xếp vào nhóm các cảng quan trọng nhất trong 536 cảng biển ở khu vực Đông Nam Á, với nhiều lợi thế so sánh rõ rệt: nằm trong 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng; nằm trong khu vực “Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ”; có vị trí quan trọng đối với giao lƣu kinh tế giữa Việt Nam với các nƣớc trong khu vực… Hải Phòng hội tụ đủ năm trục kinh tế trọng tâm của kinh tế biển: (1) Khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển; (2) Cảng, dịch vụ cảng, dịch vụ hàng hải, vận tải biển, hậu cần logistics; (3) Kinh tế thủy sản, nuôi trồng, khai thác, chế biến; (4) Du lịch biển đảo; (5) Năng lƣợng biển, dầu khí. Nghiên cứu về những lợi thế của Hải Phòng trong phát triển kinh tế biển, TS.
Nguyễn Văn Thành, Bí thƣ Thành ủy Hải Phòng giai đoạn 2011- 2015, nay là Phó Chánh văn phòng Trung ƣơng Đảng, đã nêu rõ: “Hải Phòng 10 z là một trong 28 tỉnh, thành phố ven biển ở nƣớc ta và và một trong 10 tỉnh, thành phố nằm ven bờ Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Thành phố Hải Phòng có khoảng 125 km chiều dài đƣờng bờ biển và trên 100.000 km2 thềm lục địa. Nếu chỉ tính vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 20m, vùng biển Hải Phòng có diện tích khoảng 4.000 km2, gấp 2,6 lần diện tích đất liền của thành phố. Hải Phòng có khoảng 700 đảo, đá ven bờ, chiếm khoảng 5,4% diện tích, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm ở trung tâm vịnh Bắc Bộ, cách đất liền Việt Nam khoảng 110km và cách đảo Hải Nam khoảng 130 km.
Điều này tạo cho Hải Phòng các lợi thế trong phát triển kinh tế biển, chủ yếu là ngành cảng - hàng hải, du lịch biển, thủy sản, dầu khí và các dịch vụ kinh tế biển”. Bài viết cũng nêu lên những yếu tố tác động đến công tác quản lý nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế biển tại Hải Phòng giai đoạn 2011 - 2015 rất đáng quan tâm, nhƣ: tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực; tác động từ xu thế phát triển và vị trí địa lý của Hải Phòng; tác động từ nội tại quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam và Hải Phòng. Trên cơ sở đó, bài viết nêu lên những định hƣớng phát triển kinh tế biển tại Hải Phòng, đồng thời, có ý nghĩa nhƣ định hƣớng cho công tác quản lý đối với phát triển kinh tế biển tại Hải Phòng, bao gồm: (1) Xác định vị trí pháp lý của quy hoạch sử dụng biển đảo trong hệ thống quy hoạch chung của quốc gia; (2) Đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát, nghiên cứu, xác lập và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về tài nguyên và môi trƣờng biển; (3) Hình thành hệ thống các sản phẩm chủ lực có tầm chiến lƣợc, có sức cạnh tranh cao trong các ngành và lĩnh vực kinh tế biển có lợi thể so sánh. Nhƣ vậy có thể thấy rằng, vấn đề quản lý nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế biển có thể đƣợc tiếp cận từ các góc độ khác nhau.
Có thể từ phân tích các thành quả đạt đƣợc để từ đó nêu bật vai trò lãnh đạo của nhà nƣớc; có thể phân tích tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế biển để cho thấy vai trò 11 z của của công tác quản lý ngành, công tác qui hoạch; có thể phân tích những tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý đối với phát triển kinh tế biển để đề xuất giải pháp cải tiến các phƣơng pháp về quản lý. Đồng thời cũng có thể thấy rằng, vấn đề về quản lý nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế biển cần phải đƣợc xem xét một cách tổng hợp trên nhiều khía cạnh, từ phía cơ quan quản lý nhà nƣớc, các nhà làm chính sách, các nhà nghiên cứu. Ví dụ, đối với nhà quản lý và các nhà làm chính sách, kết quả đạt đƣợc và những đóng góp đối với phát triển KT-XH của kinh tế biển luôn là sự quan tâm hàng đầu để ban hành chính sách. Các doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ lại quan tâm đến tác động của chính sách quản lý hiện hành trong việc mang lại hiệu quả đầu tƣ cho tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia phát triển kinh tế biển.
Từ đó, việc đề xuất giải pháp có thể mang tính lợi ích riêng đối với từng đối tƣợng cụ thể. Điều này cho thấy cần thiết phải có nghiên cứu, đánh giá khách quan, cụ thể từng vấn đề của công tác quản lý nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế biển để có những giải pháp tối ƣu. Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển 1. Những vấn đề lý luận cơ bản 1.
Về kinh tế biển Hiện nay, trên thế giới có 157/203 quốc gia, vùng lãnh thổ có biển (theo số liệu chính thức đƣợc Liên hiệp quốc công nhận). Biển được hiểu là những vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên. Mặc dù con ngƣời sinh sống trên phần đất liền, nhƣng biển và đại dƣơng lại đƣợc xem là nơi bắt nguồn của sự sống và cũng là nơi có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho sự sống của con ngƣời. Theo nghĩa hẹp, kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra ven biển và trên biển, bao gồm: (1) Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ 12 z cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khai thác Dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo.
Theo nghĩa rộng thì ngoài các ngành trên, kinh tế biển còn bao gồm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển.