Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm công chứng, xã hội hóa công chứng, quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa công chứng 1. Khái niệm và vị trí, vai trò của công chứng 1. Khái niệm công chứng Do đặc điểm lịch sử và điều kiện phát triển kinh tế, xã hội đất nước qua mỗi thời kỳ, khái niệm công chứng ở nước ta cũng có sự thay đổi cho phù hợp và theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Việc tìm hiểu khái niệm công chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề khác có liên quan đến công chứng. Ở nước ta, hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Hoạt động công chứng của nước ta ở giai đoạn này đều áp dụng theo mô hình của Pháp chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng: Người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiểm và giữ chức vụ suốt đời.
Quy chế công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm. Công chứng viên hoạt động với tư cách là người thi hành công vụ, hoạt động mang tính chất của người hành nghề tự do. Ngày 10/10/1987, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 574/QLTPK về công tác công chứng nhà nước, đến thời điểm này hệ thống công chứng Nhà nước Việt Nam mới được hình thành, công chứng nhà nước được xác định như sau: “là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện”. Do đặc điểm tình hình đất nước, mới bước vào giai đoạn của Luan van 10 thời kỳ đổi mới, tuy đã đưa ra được những cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động của công chứng nhà nước nhưng Thông tư số 574/QLTPK cũng còn những điểm chưa rõ ràng như chưa xác định được chủ thể, đối tượng, nội dung hoạt động công chứng, chỉ quy định một cách chung chung nên qua quá trình phát triển, hoạt động công chứng cần có một cơ sở pháp lý đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao.
Ngày 27/2/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, công chứng nhà nước được xác định như sau: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Tiếp đến, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước xác định công chứng như sau: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 và Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 đã đưa ra khái niệm công chứng nhưng việc quy định công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ còn mang tính chung chung. Khắc phục những vấn đề còn tồn tại, hạn chế tại các quy định trước đây, đồng thời phát triển thêm cho phù hợp với quá trình phát triển của các giao dịch dân sự, theo xu hướng chung của thế giới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng Luan van 11 thực.
Nghị định này đã tách biệt 02 khái niệm công chứng và chứng thực, trong đó, công chứng là “việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này”)[6]. Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ đã thay đổi tên gọi từ “Phòng công chứng nhà nước” thành “Phòng công chứng”, đây là tiền đề cho sự thành lập, phát triển của Văn phòng công chứng theo quy định của Luật Công chứng năm 2006. Có thể nói, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ đã có những điểm mới phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, có ý nghĩa quan trọng cho việc xã hội hóa công chứng, đưa tổ chức và hoạt động công chứng theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, tách biệt giữa hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai cũng phát sinh những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và hơn thế nữa, yêu cầu, đòi hỏi chế định công chứng cần phải được nâng lên thành luật là cơ sở để Luật Công chứng năm 2006 ra đời.
Theo quy định của Luật Công chứng năm 2006, công chứng là “việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Việc ban hành Luật Công chứng năm 2006 là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá nội dung về hoàn thiện thể chế về công chứng ở nước ta trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 (có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2015), công chứng là “việc công chứng viên Luan van 12 của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Việc ban hành Luật Công chứng năm 2014 có ý nghĩa quan trọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập về thể chế, nâng cao chất lượng của hoạt động công chứng, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, đáp ứng được chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Ngoài các quy định nêu trên quy định chuyên ngành về tổ chức và hoạt động công chứng, trong nhiều văn bản khác của Đảng [13, 14], Nhà nước ta như: Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở … đều có những quy định liên quan đến hoạt động công chứng. Hoạt động công chứng ở nước ta tuy ra đời muộn so với các quốc gia khác trên thế giới nhưng đã được hình thành trong môi trường rất thuận lợi đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điền kiện cho chế định công chứng ngày càng phát triển, đi vào cuộc sống. Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hương [18, tr.24] “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong qúa trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch”. Từ quy định của pháp luật hiện hành và nghiên cứu bản chất của hoạt Luan van 13 động công chứng, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về công chứng như sau: Công chứng là dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm, là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Vị trí, vai trò của công chứng Hoạt động công chứng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch, nhu cầu chứng thực của tổ chức, cá nhân trên địa bàn, đồng thời góp phần giảm tải công tác hành chính tư pháp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện. Thứ nhất, theo quy định tại Điều 3 Luật Công chứng năm 2014: “Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội”. Văn bản công chứng được công chứng viên chứng nhận theo đúng trình tự, thủ tục quy định có giá trị thi hành đối với các bên liên quan kể từ ngày công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng, có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.