Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học. Chương 2: Thực trạng nghiên cứu khoa học, quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.
Khái niệm quản lý nhà nƣớc về nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm khoa học Trong lịch sử phát triển của nhân loại có nhiều quan niệm khác nhau về khoa học. Điều này phụ thuộc vào trình độ nhận thức và trình độ phát triển của nhân loại trong từng giai đoạn. Khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội mà còn là kết quả của quá trình sáng tạo.
Khoa học là một hệ thống tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trong suốt quá trình lịch sử. Hệ thống tri thức đó được phân chia thành các lĩnh vực khoa học khác nhau như khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội. Đến nay đã có nhiều khái niệm về khoa học xuất hiện: - Tác giả Vũ Cao Đàm cho rằng: “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” [2, Tr. - Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp”. Mặc dù có nhiều khái niệm về khoa học, nhưng có thể thấy rằng các khái niệm này có một số điểm chung: khoa học là hệ thống tri thức của con người về mọi mặt của tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy lâu dài xuyên suốt quá trình lịch sử phát triển của nhân loại; vừa có sự kế thừa vừa có sự lựa chọn: có sự thay thế tri thức cũ và lạc hậu bằng tri thức mới, hiện đại. 8 Luan van Như vậy có thể rút ra khái niệm về khoa học: Khoa học là một hệ thống tri thức về quy luật và sự phát triển của vật chất, tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Khái niệm nghiên cứu khoa học Khoa học không chỉ phản ánh trung thực các sự kiện của đời sống mà còn chỉ ra nguồn gốc phát sinh, phát triển, mối quan hệ giữa các sự việc, sự vật với nhau. Nhằm khám phá ra bản chất, các quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng cần tiến hành nghiên cứu khoa học. Hiện nay, có một số khái niệm về nghiên cứu khoa học như sau: - Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” [2, Tr.
- Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”. Các khái niệm trên đều có chung một số điểm sau: Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, tìm hiểu và phát triển các vấn đề trong tự nhiên, xã hội và tư duy và vận dụng vào thực tiễn. Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về nghiên cứu khoa học như sau: Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Khái niệm Quản lý nhà nước Theo chủ nghĩa Mác- Lênin, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của 9 Luan van quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm quản lý, duy trì, phát triển trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trị trong xã hội.
Trong quản lý xã hội, nhà nước có vai trò nòng cốt và quyết định đối với toàn xã hội. Nếu nhà nước thiếu chủ động và tầm nhìn chiến lược có tính hệ thống trong quản lý xã hội sẽ không tránh khỏi tình trạng phân tán, chắp vá và thiếu hiệu quả của các chính sách quản lý xã hội. Do đó, quản lý nhà nước có vai trò rất quan trọng và được định nghĩa như sau: - Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Quản lý nhà nước là tổ chức và quản lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và đoàn thể xã hội, theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý hành chính do chính phủ đại diện nhà nước thực thi và bảo đảm bằng sức cưỡng chế của nhà nước” [6, Tr. - Theo Giáo trình lý luận hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [5, Tr.
Các khái niệm trên đã nhắc đến chủ thể quản lý là nhà nước và đối tượng bị quản lý là các tổ chức, đoàn thể dựa trên quyền lực của nhà nước để quản lý. Tuy nhiên, khái niệm quản lý nhà nước của Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính chưa nêu rõ các lĩnh vực bị nhà nước quản lý cũng như các biện pháp quản lý chưa được cụ thể hóa. Khái niệm quản lý nhà nước theo Giáo trình lý luận hành chính nhà nước đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. Qua đó, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước là nhà nước tác động lên đối tượng, thành viên một cách thường xuyên, liên tục bằng cách sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức; nó bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp 10 Luan van đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước.
Như vậy, khái niệm quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học có thể được hiểu như sau: Quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học là một dạng quản lý đặc biệt, nó sử dụng quyền lực nhà nước, chính sách, pháp luật để điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; nó bao gồm các nội dung như hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng chính sách nghiên cứu khoa học, cải cách cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học, ban hành tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về nghiên cứu khoa học, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học, quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý nguồn lực nghiên cứu khoa học và quản lý việc áp dụng các thành quả thu được từ nghiên cứu khoa học. Sự cần thiết, đặc điểm của quản lý nhà nƣớc về nghiên cứu khoa học 1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học - Đảm bảo nghiên cứu khoa học đi theo đúng mục tiêu, mục đích mà khoa học phải đạt được theo quy định của nhà nước: Phát triển nghiên cứu khoa học theo mục tiêu,mục đích mà Đảng và Nhà nước yêu cầu đặt ra cho khoa học xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội mang tính cấp bách. Nhiều kết quả của nghiên cứu khoa học xã hội đóng góp thiết thực vào việc cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khoa học xã hội đã góp phần xây dựng hệ thống quan điểm phát triển đất nước, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ; tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng; khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức.
Trong giai đoạn hiện nay xảy ra 1 số hiện tượng như phân hóa giàu nghèo, nhận thức tư tưởng lệch lạc. Do đó, Nhà nước cần quản lý, đảm bảo các công trình nghiên cứu đi 11 Luan van đúng theo định hướng, mục tiêu đặt ra bằng các đơn đặt hàng về một số lĩnh vực cấp bách, quan trọng. - Quản lý nhà nước về nghiên cứu khoa học nhằm chống lại sự lạm dụng của khoa học với mục đích không chính đáng: Khoa học xã hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu khoa học xã hội với mục đích giúp con người và xã hội phát triển, thích ứng với những thay đổi của môi trường bên ngoài và tư duy.
Tuy nhiên, hiện nay có tình trạng một số người lợi dụng nghiên cứu khoa học để gây ra những mâu thuẫn xã hội khiến cho mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, giữa con người với con người trở nên gay gắt, gây xáo trộn đời sống. Nhà nước xác định được những bất cập trong xã hội và Nhà nước cần quản lý việc thực hiện nghiên cứu để tìm ra cách giải quyết những vấn đề bất cập đó theo hướng đúng đắn, chống lại những lợi dụng khoa học vì những lợi ích không chính đáng và đáp ứng nhu cầu của thị trường. - Để thúc đẩy quá trình hội nhập khoa học của Việt Nam với các nước trên thế giới. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.