Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN DE NGHIÊN CUU 1. Các lý thuyết về di động xã hội trong cộng đồng khoa học 1. Di động xã hội DI động xã hội (tiêng Anh là social mobility), còn được gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng dé chỉ sự chuyên động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội. Di động xã hội liên quan đến sự vận động của con người từ một vi trí xã hội nay đến một vị trí xã hội khác trong hệ thong phan tang xa hội.
Thực chat di động xã hội là sự thay đổi vị tri trong hệ thống phân tang xã hội. Van dé di động xã hội liên quan tới việc các cá nhân gianh vi tri, địa vị xã hội, liên quan tới điều kiện ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu xã hội. Nội hàm cua di động xã hội: La sự vận động của cá nhân hay một nhóm người từ vi thế xã hội này sang vị thế xã hội khác; là sự di chuyên của một con người, một tập thể, từ một địa vị, tầng lớp xã hội hay một giai cấp sang một dia vi, tầng lớp, giai cấp khác. Di động xã hội có thé định nghĩa như sự chuyên dich từ một dia vi này qua một địa vi khác trong cơ cấu tô chức.
Khi trong xã hội học nói đến tính di động, người ta hiểu đó là sự thay đôi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị được quy định của một hệ thống. Bên cạnh tính di động của các cá thể, mang ý nghĩa xã hội học nhưng xa trọng tâm của các khảo cứu là tính di động bắt nguồn từ các quyết định cá nhân hay tập thể, của những đối tượng vật chất và không phải vật chất như sự dịch chuyền của các doanh nghiệp hay dòng đi và dòng đến của tiền vốn. Việc gắn khái niệm tính di động vào một quan điểm hệ thống nhấn mạnh đến đặc tính phân tính của nó và lưu ý là các quá trình di động được quan sát phụ thuộc vào việc lựa chọn các đơn vị bộ phận ở từng hệ thống làm cơ sở: Các đơn vị bộ phận càng nhỏ chừng nảo thì tiềm năng về các trường hợp di động quan sát được càng lớn bấy nhiêu và ngược lại. Nhiều khi các đơn vị bộ phận được chọn lớn ở mức sao cho vẫn có thể phân biệt được các quá trình van động giữa chúng và các quá trình vận động trong phạm vi các đơn vi bộ phận.
Định nghĩa theo định hướng hệ thống này về tính đi động cũng khái quát hơn là quan niệm về tính di động của Sorokhin như sự thay đôi vị trí của các cá thể trong một xã hội, trong đó ngay từ đầu đã diễn ra sự quy định về đơn vị nhỏ nhất có thể; và với xã hội ngay từ đầu sự giới hạn về quy mô đã loại ngay ra quá trình di động quy mô xã hội như di cư chang hạn. Về nguyên tắc, di động xã hội được đo trên bình diện cá thể nhưng thông qua tính toán tỉ lệ di động cũng như với tư cách là đặc điểm của các biến ở bình diện tổng hợp cao hơn cũng có những ứng dụng. Như vậy, người ta đề cập không chỉ đề cập tới những cá nhân di động ở mức độ khác nhau, hay tới các xã hội có tính di động ít hay nhiều. Tổng số các thay đổi giữa hai đơn vị cũng như giữa các đơn vị và tất cả các đơn vị khác trong phạm vi một thời gian được gọi là dòng đến và dòng đi hoặc là thăng giáng.
Nếu người ta cân đối các đại lượng này, sẽ nhận được chênh lệch của từng loại di dộng được quan sát. Trong phần tong quan sau đây sẽ tong hợp những loại di động thường được khảo cứu nhất cho tới nay của các nhà xã hội học. Việc đề cập tách rời các loại di động khác nhau tạm thời bỏ qua việc trong thực tế các tổ hợp điển hình của từng loại thường xuất hiện. Di động xã hội có thể xem xét ở góc độ di động về địa lý, di động trong công việc và sự dịch chuyền trong hệ thống thứ bậc xã hội.
Di động về địa lý hay không gian được định nghĩa như là sự thay đổi của các cá thé giữa các đơn vị của một hệ thống không gian. Nếu những thay đổi này mang nội dung một chuyên dịch nơi cư trú thì ở đây đề cập đến tính di động về nơi cư trú. Nếu trong quá trình di động, nơi cư trú vẫn được giữ nguyên và chỉ như là điểm xuất phát và điểm kết thúc của quá trình thì không được coi là đi động xã hội về mặt địa lý. Dé có thé nói di động về dia lý, định nghĩa này đòi hỏi hoặc phải thực sự xuất hiện một sự thay đổi.
Nó khác ở điểm này với các định nghĩa dé cập tới sự sẵn sàng của một cá thé dé thay đổi về không gian hoặc là tới năng lực cho việc này trên cơ sở các nguồn lực sẵn có như tính di động ở dưới bảng sau. Hệ thống Ả r h Không gian địa Khu vực tỉnh, Tô chức, đơn vị Phân tầng xã được xét lý của một nước thành phố làm việc hội Loại tính di Tính di động về Tính di động về Tính di động về Tính di động về động không gian không gian việc làm xã hội Don vi phân | Khu vực Phạm vi tinh, | Don vị, tô chức Tầng lớp, nhóm chia thành thành phần Tinh di động | Tính di động về | Tính di động | Dòng lực lượng |Tính di động giữa các đơn | khu vực trong phạm vi | lao động theo trục đứng VỊ khu vực (hăng tiến hay thụt lùi) Tính di động | Tính di động | Chuyên chỗ ở Thay đổi công |Tính di động trong phạm | trong phạm vi khu việc trong phạm | theo trục ngang vi đơn vị vực vi tổ chức, đơn vị Bảng trên đã hệ thống hóa các loại hình di động xét theo góc độ, cấp độ khác nhau từ di động đơn thuần về không gian, việc làm đến di động về xã hội. Mỗi loại đi động này có phạm vi và hướng thay đổi khác nhau. Sự di động về địa ly, cũng như sự di động trong phạm vi một tổ chức có thé dẫn đến những thay đổi về mặt xã hội của cá nhân.
Nói cách khác, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa các loại hình di động khác nhau với di động xã hội, có thể đưa đến những thay đôi về vị trí, vai trò xã hội. Các quá trình của tính di động về cư trú gọi đó là di cư. Sự thay đổi từ một khu vực này sang một khu vực khác là tính di động theo khu vực, còn sự thay đổi địa điểm trong phạm vi một khu vực là tính di động phạm vi vùng hay nội vùng. Mối quan tâm về nghiên cứu xã hội học trong mối quan hệ với di cư chủ yếu chú trọng tới quá trình tiếp biến văn hóa và thích nghi của những người di cư.
Nghiên cứu về tính di động theo khu vực cho tới gần đây do các tiếp cận về kinh tế chiếm ưu thế, được quy định bởi sự phụ thuộc của các dòng đến và dòng đi của khu vực, vào tình hình thị trường lao động. Sự tăng lên về tỉ lệ các đi động khu vực không chú trọng về việc làm và thu nhập trong những năm gần đây (người về hưu) cho thấy sự cần thiết phải cải tiến và mở rộng cách tiếp cận lý giải thường sử dụng các yếu tô môi trường và chat lượng sống. Tính di động theo phạm vi khu vực ngược lại được quyết định nhiều hơn bởi các yếu tô gắn với nơi ở và môi trường ở và biến số “vị trí trong chu trình sống” giữ một vai trò trung tâm trong các lý thuyết về vấn đề này. Bởi vì trong các giai đoạn quá độ của nó, những nhu cầu và những đòi hỏi về ở thay đổi rất mạnh.
Với việc di chuyền chỗ ở trong phạm vi khu vực hiếm khi kèm theo việc thay đổi việc làm, nhưng rat hay gan với những thay đổi của không gian hoạt động hàng ngày, tức là với toàn bộ quá trình di động theo vòng tròn xuất phát từ nhà ở. Việc nghiên cứu các hình thức di động theo vòng tròn chủ yếu tập trung vào các xu thế phát triển của việc đi lại con thoi giữa nơi ở và nơi làm việc, cũng như các mẫu hình hành vi và động cơ. Tính di động trong công việc là một biểu hiện khác của đi động xã hội. Sự di động trong công việc lại có những dạng thức khác nhau từ góc độ xã hội học.
Sự di dộng trong công việc kèm theo sự di động về không gian địa lý, thay đôi công việc và thay đổi nơi cứ trú và một dang di động khác là di động công việc nhưng không thay đổi nơi cư trú. Việc thay đổi công việc ở đây được xét ở một phạm vi rộng hơn là sự thay đôi các cơ quan, don vi, tô chức làm việc không phải là sự thay đổi công việc trong phạm vi cơ quan hiện tại. Thực ra sự di động trong công việc gắn với sự thay đổi không gian là một sự dịch chuyên lớn và có thé kéo theo các dịch vụ xã hội khác như dịch chuyên về vị thé, vai trò xã hội. Di động xã hội trong cộng đồng khoa học 1.
Khái niệm di động trong cộng đồng khoa học Khái niệm di động xã hội trong các nghiên cứu xã hội học gân đây được tiếp cận ở một góc độ khác đó hướng đến khía cạnh sự dịch chuyên xã hội. Đó là vấn đề di động xã hội trong cộng đồng khoa học. Trong các cộng đồng xã hội đang cùng chung sống trên hành tinh, cộng đồng khoa học có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất. Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá bằng lao động trí tuệ, cũng sống băng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại những sản phẩm tinh thần bất diệt của lao động trí tuệ.
Có thể nói, cộng đồng khoa học là một cộng đồng elit của xã hội [10]. Vi vậy, nghiên cứu các khía cạnh xã hội của cộng đồng này là một việc làm cần thiết mang nhiều ý nghĩa. Chúng ta đang tiễn bước vào thế kỷ mới với những đổi thay sâu sắc và phổ biến trên phạm vi toàn thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ đương đại đang có những bước tiến kỳ diệu.