mở đầu của luận văn giới thiệu về những điểm cơ bản nhất của dé tài: Lý do hình thành đề tài, mục tiêu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương tiếp theo cung cấp cho người đọc một cách tông quan về cơ sở lý thuyết liên quan. Chương 2: CO SỞ LÝ THUYET VA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về quản trị nhân sự “Quan tri nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tong thé các hoạt động hoạch định. tuyến mộ, tuyến chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức”(Thân, 2007).
Theo Trần Kim Dung (2010), Quản trị nguén nhân lực nghiên cứu các vẫn dé về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vĩ mô và có 2 mục tiêu cơ ban: + Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả của tổ chức. + Đáp ứng nhu cầu ngay càng cao của nhân viên làm cho nhân viên được phát huy tối đa năng lực của cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành tận tâm với doanh nghiệp. Trong nên kinh tế chuyền đôi như của Việt Nam, trình độ kỹ thuật, công nghệ còn thấp, kinh tế chưa 6n định và nhà nước chủ trương quá trình phát triển phải thực hiện băng con người và vì con người thì động lực làm việc là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đảo tạo, phát triển và duy tri con người của một tô chức nhăm dat được kết quả tối ưu cho cả tô chức và người lao động.2 Động lực làm việc 2.1 Khái niệm động lực: Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tô chức (Quân,N.
Một số nhân viên làm việc hiệu quả hơn những người khác bởi vì họ có các mục đích thực hiện khác nhau (Locke & Latham ,1990). Tuy nhiên, theo lý thuyết nhận thức xã hội, không phải là mục đích mà là sự khác biệt tạo ra giữa cá nhân khi so sánh cách thức họ thực hiện với cách họ muốn thực hiện động lực thúc đây hành vi đó (Bandura, 1986). Có rất nhiều khái niệm khác về động lực làm việc, nhưng dưới góc nhìn của quản trị, đa số đều thong nhất: Động lực làm việc là những cái thúc đây con nguol hoat dong, lam viéc dé đạt được các mục tiêu nhất định. Biểu hiện của động lực là sự hang say, nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc.
Tô chức cần phải tìm ra những yếu tổ tạo động lực, kích thích nhân viên nhằm làm thỏa mãn nhân viên để khuyến khích họ thực hiện công việc tốt nhất giúp tô chức duy trì và đạt mục tiêu kế hoạch. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực dé người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tô chức.2 Bản chất của động lực: Từ những quan điêm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thay được động lực lao động có những ban chat sau: Động lực lao động được thé hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thé có những động lực khác nhau dé làm việc tích cực hơn.
Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tô chức và một môi trường làm việc cụ thê. Động lực lao động không hoản toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thé thay đối thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rat cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chac đã còn trong họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thây có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thé đạt được năng suất lao động tốt nhất. Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đây họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyên sản xuat.3 Các yêu tô tạo động lực trong lao động: * Các yếu tố phụ thuộc vào ban chất công việc mà người lao động đang làm: đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của người lao động.
* Các yêu tô thuộc về bán thân người lao động: hệ thông nhu cầu của người lao động bao gồm nhu cầu về vật chất, nhu cầu về tỉnh thân. Những nhu cầu đó có quan hệ biện chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất - ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động lực cho lao động. * Các yếu tổ bên ngoài thuộc môi trường quản lý: tất cả những công tác quản lý trong tô chức để có những ảnh hưởng nhất định tới động lực làm việc của người lao động, cụ thể như điều kiện và chế độ thời gian lao động, tô chức phục vụ nơi làm việc, thù lao lao động, đánh giá kết quả làm việc, ky luật, công tac đào tạo, văn hóa trong tô chức.2 Các lý thuyết về động lực làm việc 2.1 Thuyết về các cấp bậc nhu cầu (Maslow, 1943) Nhu cau tu hoan thién Nhu cau được tôn trong / Nhu cau xã hội \ i Nhu cau vé an toan ay 2 Nhu cau về sinh lý (vật chat) \ Hinh 2.1: Thap nhu cau cia Maslow Nguồn: (Ha, 2009) Trong ly thuyết nay Maslow đã sắp xếp các nhu câu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.
- Nhu cau cơ ban (basic needs) có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống con người do đó dé khuyến khích người lao động làm việc trước tiên phải đảm bảo nhu cau này thông qua chế độ lương bỗng. - Nhu cầu về an toàn (safety needs) nhu cầu được bảo vệ, 6n định cảm thay an toàn khi làm việc thông qua hoạt động của Công đoàn và phúc lợi. - Nhu cầu về xã hội (social needs) được tham gia các tổ chức, đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Công đoàn các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thé thao. - Nhu câu về được quý trong (esteem needs) được phân công công việc tương xứng với khả năng, trình độ của nhân viên, được đánh giá đúng thành tích, cống hiến.
- Nhu cầu tự hoàn thiện (self-actualizing needs) thông qua việc phân công những công việc có tính thử thách. Các nhà quản lý muốn tạo động lực cho công chức thì phải biết họ đang ở cấp bậc nhu câu nào dé đưa ra giải pháp phù hợp nhăm thỏa mãn nhu câu của công chức 11 đồng thời bao dam đạt được các mục tiểu của đơn vi.2 Thuyết hai nhân tố (Herzberg, 1968) Thuyết này chia các nhân t6 làm hai loại: các nhân t6 động viên và các nhân tô duy trì (được hiểu theo nghĩa nếu thực hiện tốt các yếu tố này thì động lực lao động không bi mat di). @ Nhóm 1: Nhóm yếu tô tao động lực mà Herzberg nhắc đến là: — Sự thành đạt trong công việc — Sự thừa nhận thành tích — Bản thân công việc ( mức độ hấp dẫn, mức độ thách thức) — Các quy định về trách nhiệm và chức năng trong công việc — Sự thăng tiến Đây là những yếu tổ nội tại và nếu không được thoả mãn thì người lao động mat đi động lực. ® Nhóm 2: Các yếu tố duy trì gồm có: — Các chính sách, quy định về quản lý của tổ chức — Sự giám sát, hướng dẫn trong công việc — Tiền lương — Quan hệ với con người —~ Điều kiện vật chất Ý nghĩa của học thuyết: Học thuyết này giúp cho các nhà quản trị biết được các yếu tô gây ra sự bất mãn cho nhân viên và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tổ này.
Ví dụ, nhân viên có thê bất mãn với công việc vì mức lương của họ quá thấp, cấp trên giám sát quá nghiêm khắc, quan hệ với đồng nghiệp không tốt. Như vậy, nhà quản trị phải tìm cách cải thiện mức lương, giảm bớt giám sát và xây dựng tình đồng nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên khi các nhân tố gây bat mãn được loại bỏ thì cũng không có nghĩa là nhân viên hai lòng. Nếu muốn động viên nhân viên, làm cho họ hai lòng trong công việc thì người quản trị cần chú trọng đến những yếu tố như sự thành đạt, sự thừa nhận va giao việc.
Vi dụ, nhân viên cảm thấy hài lòng với công việc khi họ được giao việc đúng khả năng và tính cách của mình, có co hội đê học tap, nâng cao kỹ năng nghê nghiệp và được thang 12 tién.3 Thuyết công bằng của John Stacey Adams (1963) Nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng băng cách so sánh công sức họ bỏ ra với những thứ họ nhận được cũng như với đồng nghiệp. Một nhân viên không thể có động lực làm việc nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công băng (Adams, 1963). Vận dụng thuyết công băng của Adams: Dé tạo động lực làm việc cho công chức cần tạo ra và duy trì sự công băng trong đơn vị. Loại bỏ sự bất công băng tuyên dương, đề nghị khen thưởng dựa trên thành tích; tạo cơ hội học tập.
đảo tạo và thăng tiễn như nhau cho người có năng lực, thành tích ngang nhau.