Chương 1: Lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã. Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã. Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC ĐỊA CHÍNH – NÔNG NGHIỆP – XÂY DỰNG VÀ MÔI TRƢỜNG CẤP XÃ 1.
Những vấn đề cơ bản về công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trƣờng cấp xã 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cấp xã Cấp xã là cấp quản lý thấp nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta. Cấp xã là tên gọi chung để chỉ ba dạng tổ chức: - Phường: Chỉ đơn vị hành chính thuộc quận, thị xã và Thành phố thuộc tỉnh; - Thị trấn: Trung tâm hành chính – kinh tế của Huyện; - Xã: Đơn vị hành chính nhà nước thấp nhất.
Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Sự đúng, sai trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện trực tiếp ở cấp xã, cả về phương thức thực thi lẫn sự phù hợp hay không phù hợp của đường lối đó với lợi ích của nhân dân. Tầm quan trọng của cấp xã đòi hỏi cán bộ, công chức phải có đủ năng lực để thực thi nhiệm vụ được pháp luật nhà nước giao cho. Tính đến ngày 08/02/2018, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 1.589 phường, 606 thị trấn và 8.967 xã, trong đó có 336 xã thuộc các thành phố trực thuộc tỉnh, 290 xã thuộc các thị xã và 8.341 xã thuộc các huyện với tổng số trên 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã [9].
Đây là những người trực tiếp thực hiện và đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức để nhân dân thực hiện. Khái niệm công chức Khi tìm hiểu về quan niệm thế nào là công chức thì còn nhiều ý kiến khác nhau. Các nước trên thế giới hiện nay đang thực hiện chế độ công chức thì tuyệt đại đa số đều có chung một nhận thức sau: Công chức là người làm việc nhà nước, được bổ nhiệm gánh vác công việc Chính phủ giao, không thông qua thủ tục bầu cử; hoặc công chức là khái niệm chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Nhưng do quan điểm tổ chức của Nhà nước và của Chính phủ giữa các nước không giống nhau nên khái niệm công chức cũng luôn khác nhau.
Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính Nhà nước. Điểm khởi đầu của sự hình thành khái niệm công chức ở Việt Nam nằm trong giai đoạn 1946 - 1960, đó là việc ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức. khái niệm công chức đã được nêu ra trong văn bản chính thức của Nhà nước. Theo Quy chế này, phạm vi công chức còn rất h p, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ.
Đây chính là đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy hành chính Nhà nước theo cách hiểu hiện nay. Sau đó một thời gian dài, (Giai đoạn từ năm 1960 đến cuối những năm 1980), do hoàn cảnh chiến tranh, Việt Nam không sử dụng khái niệm công chức mà thay vào đó là một khái niệm khác với cụm từ ―cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước‖, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước cho phù hợp với quan niệm chung của quốc tế, thuật ngữ ―công chức‖ lại được sử dụng trở lại và khái niệm công chức lại được quy định tại Nghị 14 định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: ―Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp, gọi là công chức‖ [22]. Khái niệm này đã nêu khá đầy đủ các dấu hiệu cơ bản về công chức trong nền hành chính hiện đại, phù hợp với quan niệm chung của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý, khái niệm này mới chỉ dừng lại ở mức độ thể hiện ở văn bản lập quy của Chính phủ. Năm 1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức. Văn bản Luật này chỉ sử dụng thuật ngữ ―cán bộ công chức‖ nói chung và xuất hiện một số bất cập khi đồng nhất những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các ngạch hành chính và sự nghiệp, lương của họ đều do ngân sách trả khiến tăng chi ngân sách, không thúc đẩy quá trình xã hội hoá dịch vụ công. Để khắc phục những hạn chế đó, Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi, bổ sung 2003 đã có sự phân hoá các đối tượng, phân biệt công chức hành chính với viên chức sự nghiệp.
Nhưng đến thời điểm này, vấn đề làm rõ thuật ngữ ―cán bộ‖, ―công chức‖ vẫn chưa được giải quyết dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau liên quan đến quyền và nghĩa vụ, cơ chế, các quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của công chức, viên chức. Luật cán bộ, công chức năm 2008 ra đời, cơ bản đã khắc phục được những hạn chế trên. Tại Khoản 2, Điều 4, Luật cán bộ, công chức quy định: ―Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên 15 nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật‖. Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu của Luận văn này, khái niệm công chức hành chính nhà nước ở Việt nam (gọi tắt là công chức) có thể được hiểu như sau: Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng để giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước từ cấp Huyện trở lên, được bổ nhiệm vào một ngạch chức danh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm công chức cấp xã Công chức cấp xã cũng là một khái niệm được sử dụng ở Việt Nam để phân biệt với công chức làm việc từ cấp Huyện trở lên. Theo tinh thần của Pháp lệnh năm 2003 [27] cũng được nhắc lại ở Luật cán bộ, công chức năm 2008 ―Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước‖, [26]. Công chức cấp xã có các chức danh: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; - Văn phòng – thống kê; - Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính – kế toán; - Tư pháp – hộ tịch; 16 - Văn hóa – xã hội [26]. Công chức cấp xã do cấp Huyện quản lý (tuyển dụng, bổ nhiệm).
Đặc điểm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã 1. Đặc điểm hoạt động của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường Dựa vào những nội dung quy định trên, có thể chỉ ra một số điểm có tính đặc thù hoạt động của công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường: Một là, công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã làm công tác chuyên môn trong các lĩnh vực: Đất đai, nông nghiệp, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông trên địa bàn, thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã; có trách nhiệm tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp giao. Hai là, công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã phải thực hiện một loạt các hoạt động giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý đất đai của Nhà nước rất phong phú, đa dạng bao gồm: điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân loại đất, lập bản đồ địa chính, quản lý các hoạt động sử dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về đất và sử dụng đất. Các công việc mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi người công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng sử dụng các công cụ trong đo đạc, vẽ bản đồ.
Ba là, công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường cấp xã hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm là quản lý đất đai, quản lý xây dựng, trật tự đô thị và bảo vệ môi trường.