CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG 1. Vai trò của cấp phường trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam 1. Khái niệm chung về chính quyền cấp phường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Cấp phường là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp phường làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi".
Hiến pháp 1992 của nước ta cũng xác định xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp phường, xã) là đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp nhỏ nhất và cuối cùng trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước (Trung ương, tỉnh, huyện, xã). Như vậy chính quyền cấp phường có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển CNH, HĐH đất nước. Điều đó được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây: - Chính quyền cấp phường là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất trong bốn cấp hành chính. Có chức năng, nhiệm vụ giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, nắm bắt tâm tư, tình cảm, ý chí nguyện vọng của nhân dân để phản ảnh với các cấp liên quan.
- Chính quyền cấp phường là cấp quản lý tổ chức thực hiện toàn diện các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng. trên địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp phường là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. - Chính quyền cấp phường là bộ máy mang tính quyền lực Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ điều hành, quản lý hành chính Nhà nước ở cơ sở.
Chính quyền cấp phường bao gồm HĐND và UBND. Trong đó: "HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, 6 do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên" [55; tr 6]. - Chính quyền cấp phương là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy có đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn, khoa học nhưng ở đó chính quyền cấp phường hoạt động yếu kém thì đường lối, chính sách, pháp luật chưa thực sự phát huy tác dụng tích cực trong cuộc sống, ở đâu chính quyền cấp phường hoạt động có hiệu quả thì ở đó đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm minh, đạt hiệu quả cao, chính trị ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố, bền chặt. Cấp phường là nơi thể nghiệm chính xác nhất đường lối, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Chính quyền cấp phường là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp tuyên truyền, phổ biến giáo dục đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho nhân dân hiểu để thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật đó. Đồng thời hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là nét đặc thù của chính quyền cấp phường với chính quyền các cấp: Trung ương, tỉnh, huyện. - Cấp phường là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống, phong tục tập quán tiến bộ của dân tộc Việt Nam. Có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đời sống văn hoá mới, đặc biệt là ở vùng nông thôn. - Như vây: Chính quyền cấp phường là cấp thấp nhất, gần dân nhất trong hệ thống chính quyền bốn cấp của Nhà nước ta, bao gồm HĐND và UBND, thực hiện quyền lực Nhà nước và đại diện cho ý chí nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quyết định và thực hiện những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn theo qui 7 định của Hiến pháp và pháp luật, các quyết định, sự uỷ quyền của cấp trên, đồng thời tổ chức phát huy tính tự quản của nhân dân tại cơ sở.
Phân loại các đơn vị hành chính cấp phường Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, nước ta có 11.121 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 1.448 phường, 623 thị trấn và 9. Qua 25 năm đổi mới chúng ta đã thu được những thành tựu về kinh tế. Nó là nền tảng cho việc đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở đổi mới hệ thống chính trị trở thành xúc tác, động lực cho đổi mới kinh tế thu được kết quả.
Một trong những yếu tố góp phần nâng cao vai trò của chính quyền cơ sở trong việc quản lý xã hội là Đảng, Nhà nước ta đã xác định được tiêu chí phân loại đơn vị hành chính cấp xã trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, xã hội, phong tục, tập quán. Dựa trên các tiêu chí cụ thể, xã, phường, thị trấn được phân làm ba loại đơn vị hành chính. Theo nghị định số 159/2005 ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn gồm : Xã, phường, thị trấn loại 1; Xã, phường, thị trấn loại 2; Xã, phường, thị trấn loại 3. Tiêu chí phân loại gồm 3 tiêu chí sau: Dân số; diện tích; các yếu tố đặc thù.
Thông qua việc tính điểm để chúng ta phân loại chính quyền cấp xã như sau: - Đối với xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa: Về dân số : Xã có dân số dưới 1.000 nhân khẩu được tính 45 điểm; xã có từ 1.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 12 điểm và được tính từ 46 đến 93 điểm; xã có trên 5.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 11 điểm và được tính từ 94 đến tối đa không quá 200 điểm. Về diện tích: Xã có diện tích tự nhiên dưới 1.000 ha được tính 30 điểm; xã có từ 1.000 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 10 điểm và được 8 tính từ 31 đến 50 điểm; xã có trên 3.000 ha cứ tăng 1.000 ha tính thêm 09 điểm và được tính từ 51 đến tối đa không quá 100 điểm. Các yếu tố đặc thù: Xã thuộc khu vực I được tính 10 điểm; xã thuộc khu vực II được tính 15 điểm; xã thuộc khu vực III được tính 20 điểm; xã đặc biệt khó khăn và xã an toàn khu (ATK) được tính 20 điểm; Xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến 50% dân số được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm; Xã có tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 30% đến 50% được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm. - Đối với xã đồng bằng: Về dân số: Xã có dân số dưới 2.000 nhân khẩu được tính 45 điểm; xã có từ 2.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 11 điểm và được tính từ 46 đến 111 điểm; xã có trên 8.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 10 điểm và được tính từ 112 đến tối đa không quá 200 điểm.
Về diện tích: Xã có diện tích tự nhiên dưới 500 ha được tính 30 điểm; xã có diện tích từ 500 ha đến 2.500 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 11 điểm và được tính từ 31 đến 52 điểm; xã có trên 2.500 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 10 điểm và được tính từ 53 đến tối đa không quá 100 điểm. Các yếu tố đặc thù: Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và xã ATK được tính 20 điểm; Xã có số lao động Nông – lâm – ngư – diêm nghiệp chiếm thấp hơn hoặc bằng 45% tổng số lao động toàn xã hội được tính 10 điểm; Xã có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hằng năm trên địa bàn (tính bình quân trong 03 năm đến năm ngân sách gần nhất) đạt 100% kế hoạch được tính 05 điểm, thu đạt thêm 10% được tính thêm 02 điểm đến tối đa không quá 15 điểm; Xã có tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 30 đến 50% dân số được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm. 9 10 - Đối với phường và thị trấn: Về dân số: Phường và thì trấn có dân số dưới 3.000 nhân khẩu được tính 45 điểm; phường và thị trấn có từ 3.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 10 điểm và được tính từ 46 đến 115 điểm; phường và thị trấn có trên 10.000 nhân khẩu cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 09 điểm và được tính từ 116 đến không quá 200 điểm. Về diện tích: Phường và thị trấn có diện tích tự nhiên dưới 500 ha được tính 30 điểm; phường và thị trấn có từ 500 ha đến 2.000 ha, cứ tăng 500 ha được tính thêm 10 điểm và được tính từ 31 đến 60 điểm; phường và thị trấn có trên 2.000 ha, cứ tăng 500 ha được tính thêm 08 điểm và được tính từ 61 đến không quá 100 điểm.
Các yếu tố đặc thù: Phường và thị trấn miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa và ATK được tính 20 điểm; Phường thuộc đô thị loại đặc biệt được tính 20 điểm, phường thuộc đô thị loại I được tính 15 điểm; phường thuộc đô thị loại II được tính 10 điểm; phường thuộc đô thị loại III được tính 08 điểm và phường thuộc đô thị loại IV được tính 05 điểm; thị trấn có vị trí trung tâm huyện lỵ được tính 10 điểm; Phường và thị trấn có tỷ lệ thu ngân sách bình quân hàng năm trên địa bàn (tính bình quân trong 03 năm đến năm ngân sách gần nhất) đạt 100% kế hoạch được tính 05 điểm, thu đạt thêm 10% được tính thêm 02 điểm đến không quá 15 điểm; Phường và thị trấn có tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 30 đến 50% dân số được tính 10 điểm, chiếm trên 50% dân số được tính 15 điểm. Trên cơ sở của việc tính điểm cụ thể cho mỗi khu vực như trên. Việc phân loại đơn vị hành chính cấp xã căn cứ vào khu điểm sau: Xã, phường, thị trấn loại 1 có từ 221 điểm trở lên; xã, phường, thị trấn loại 2 có từ 141 đến 220 điểm; xã, phường, thị trấn loại 3 có từ 140 điểm trở xuống.