Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực trong tổ chức Chương 2. Thực trạng chất lượng nhân lực tại Chỉ cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực cho Chỉ cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE CHAT LUQNG NHAN LUC TRONG TO CHU Một số khái niệm liên quan 1.
Nhân lực Nhân lực được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, về cơ bản, quan niệm của các nước và tô chức quốc tế về nhân lực tương đối thông nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nhân lực. “Theo quan niệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường không bị khiếm khuyết hoặc di tat bam sinh. Theo Phạm Minh Hạc (2010) cho rixét trên bình diện quốc gia hay địa phương nhân lực được xác định là “Tông thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”. Theo cách hiểu này, nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương.
Một cách chung nhất, có thể hiểu nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuôi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia. Độ tuổi lao động được qui định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi.
Như vậy khái niệm nhân lực có thể được hiểu như sau: + Theo nghĩa rộng: Nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thô, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KTXH của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương cụ thể). Với cách tiếp cận này, nhân lực như một bộ phân cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài 7 chính. Nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nhân lực được biêu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nhân lực.
Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Chất lượng nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về sức khoẻ, trình độ học ván, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất. + Theo nghĩa tương đối hẹp: Nhân lực được hiểu là nguồn lao động. + Theo nghĩa hẹp hơn: Nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những người trong độ tuổi nhất định nảo đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Như vậy, có thể hiểu Nhân lực là toàn bộ những khả năng về thể lực và trí lực của con người trong quá trình hoạt động sản xuất và kinh doanh đề tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nhân lực * Nguồn lực con người” hay “nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (2008): * Nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng dé phát triển kinh tế - xã hội trong một công đồng”. 'Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so.
với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thé sinh vật - xã hội, rắt nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo Nguyễn Hữu Dũng (2014): * Nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng. lực xã hội và tính năng động xã hội. góc độ thứ nhất, nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
Xem xét nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nhân lực § thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm. năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cổng hiển, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lon”. Nhu vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tỉnh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tông hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tình thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiễn bộ xã hội. Chất lượng nhân lực Theo giáo trình Nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011) thì: “Chất lượng nhân lực là khái niệm tông hợp về những người thuộc nhân lực được thê hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần của người lao động”.
“Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2009) thi: * Chất lượng nhân lực được đánhgiá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”. Theo quan điểm này thì chất lượng nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Có thê thấy “chất lượng nhân lực ” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nhân lực.
Chất lượng nhân lực thể hiện mối quanhệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực, bao gồm: Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo. của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng.
nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảmbảo cho nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá.
Kỹ năng lao động theo từng nghành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nhân lực ở xã hội công nghiệp. Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứngđược những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thê phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người Tâm lực: còn gọi là phẩm chắt tâm lý - xã hội, chính là tác phong, tinh thần — ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay. đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý.
Tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực trong tổ chức 1. Thể lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của người lao động bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tỉnh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài. Chất lượng nhân lực được cấu thành bởi năng lực tình thần và năng lực thể 10 chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó năng lực thê chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Thẻ lực tốt thẻ hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bì, dẻo dao của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực, bởi nếu không chịu được sức ép của công việc cũng như không thể tìm tồi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới.