CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Một số vấn đề cơ bản về động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc Động lực làm việc là nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân lực trong mọi tổ chức, nó thúc đầy người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất lao động và là nhân tố quyết định sự thành công các mục tiêu của tổ chức. Thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc nhưng nhìn chung đều nói nên được bản chất của việc nâng cao động cơ làm việc của người lao động.
Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2012): “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó” [5,tr. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2018): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [11,tr. Có thể hiểu động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là mong muốn và sự tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân người lao động đạt được mục tiêu của mình và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc được thể hiện qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhận và thái độ của họ đối với tổ chức.
Điều này có nghĩa là không có động cơ làm việc chung cho tất cả người lao động. Mỗi người lao động đảm nhận những công việc khác nhau và có những động lực khác nhau để làm việc. Động lực làm việc gắn liền với công việc, tổ chức và môi trường làm việc cụ thể. Như vậy, có thể nói động lực làm việc là những nhân tố bên trong, thúc đẩy con người làm việc một cách hoàn toàn tự nguyện, hăng say, có khả năng thích nghi và tính sáng tạo cao nhất với tiềm năng cuả họ để tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Đồng thời cũng là để thỏa mãn nhu cầu 8 của chính người lao động. Nó không chỉ chịu ảnh hưởng của bản thân người lao động mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ hoạt động quản lý nhân sự trong tổ chức. Tạo động lực làm việc Theo tác giả Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hương (2018) thì: “Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”.TS Nguyễn Thị Minh An (2015) thì: “Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động với người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức” [1, tr. Động lực làm việc cũng là tạo ra sức hấp dẫn trong công việc, hiệu quả của công việc cũng như về tiền lương, thưởng, phúc lợi.
Sức hút càng lớn thì lợi ích cho người lao động càng lớn, khi đó người lao động sẽ hăng say làm việc để đạt được lợi ích đó một cách nhiệt tình và tự nguyện. Đây chính là lý do để các nhà quản lý cần quan tâm tạo đông lực làm việc cho người lao động. Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần và cách ứng xử của các nhà quản lý trong tổ chức, nhằm tạo ra sự khao khát, tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu trong công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Vậy có thể rút ra một cách chung nhất về tạo động lực làm việc: Tạo động lực làm việc chính là nhân tố bên ngoài được thể hiện thông qua việc các nhà quản lý vận dụng một cách có hệ thống các chính sách, cách thức quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc, hài lòng với công việc và làm việc hiệu quả để đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.
Mục đích và vai trò của việc tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức a. Mục đích của tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức Khuyến khích, thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả và sáng tạo. 9 Giúp tổ chức giữ chân được người giỏi đang làm việc tại tổ chức. Vai trò của tạo động lực làm việc Đối với xã hội Tạo động lực làm việc giúp cho nhu cầu của người lao động được đáp ứng một cách tối đa nên giúp các thành viên trong xã hội có cuộc sống tốt hơn.
Tạo động lực làm việc giúp cá nhân người lao động đạt được mục tiêu phát triển của bản thân đồng thời giúp cho tổ chức phát triển. Khi tổ chức phát triển sẽ gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phát triển. Đối với tổ chức Tạo động lực góp phần xây dựng văn hóa của tổ chức, nâng cao uy tín của tổ chức trong xã hội. Khi tổ chức tạo động lực làm việc cho người lao động hiệu quả thì sẽ giúp tối ưu hóa khả năng làm việc của người lao động, giúp đạt được mục tiêu của tổ chức.
Đối với bản thân NLĐ Tạo động lực giúp NLĐ luôn phấn đấu phát huy tính sáng tạo và hoàn thiện mình hơn. Gắn bó người lao động với nhau hơn trong công việc, có trách nhiệm trong công việc được đảm nhận. Một số học thuyết liên quan đến động lực làm việc 1. Học thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow là một học giả về quản lý và tâm lý học của Hoa Kỳ, Maslow có nhận định rất nổi tiếng qua mô hình Tháp nhu cầu.
Maslow tin rằng ở mỗi người có những nhu cầu khác nhau mà họ mong muốn được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu thành năm bậc thang theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao như sau: 10 Nhu cầu tự hoàn Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1. 1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (Nguồn: Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực tập II, nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội[7,tr.158]) Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu thiết yếu và tối thiểu để đảm bảo cho con người tồn tại như thức ăn, nước uống, quần áo, chỗ ở và các nhu cầu khác của cơ thể. Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu được đảm bảo an toàn, không đe dọa đến công việc, tài sản, sức khỏe, tính mạng và gia đình.
Nhu cầu xã hội: Là những nhu cầu về tình yêu, sự chấp nhận, bạn bè, mong muốn gia nhập một tổ chức hay một đoàn thể nào đó, hay nói cách khác là nhu cầu kết bạn, giao lưu. Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác tôn trọng và công nhận, cũng như cần tôn trọng bản thân. Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu trưởng thành và phát triển, được biến năng lực sáng tạo của họ thành hiện thực, hay nhu cầu đạt được những thành tựu mới và có ý nghĩa. Nhìn vào hình 1.1 cho ta thấy khi một trong số các nhu cầu trên được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.
Sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân sẽ đi theo bậc từ thứ bậc thấp lên thứ bậc cao. Vì vậy, để tạo động lực cho người lao động, người 11 quản lý cần hiểu rõ người lao động đang ở đâu trong hệ thống phân cấp này và hướng tới việc thỏa mãn các nhu cầu ở hệ thống phân cấp đó. Để tạo được động lực cho người lao động thì tổ chức phải quan tâm tới các nhu cầu của họ, phải nắm được nhu cầu trước mắt của họ là gì để từ đó có các giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu người lao động, đồng thời đảm bảo đạt đến các mục tiêu của tổ chức. Học thuyết nhu cầu thúc đẩy của David Mc Clelland Thuyết nhu cầu của David Mc Clelland tập trung vào 3 nhu cầu: thành tích, quyền lực và liên minh.
Nhu cầu thành tích: một người có nhu cầu về thành tích thường muốn hoàn thành các mục tiêu đầy thách thức bằng nỗ lực của chính họ, tận hưởng thành công ở mức độ cạnh tranh và cần nhận được phản hồi rõ ràng về kết quả làm việ của họ. Nhu cầu quyền lực: những người có nhu cầu quyền lực muốn tác động, ảnh hưởng và kiểm soát các nguồn lực và kiểm soát con người nếu có lợi cho họ. Nhu cầu liên minh: muốn có mối quan hệ gần gũi và thân thiện với mọi người xung quanh. Nhu cầu liên minh khiến mọi người cố gắng vì tình bạn, hợp tác thay vì cạnh tranh và muốn xây dựng mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau.
Thuyết nhu cầu của McClelland được ứng dụng trong thỏa mãn nhu cầu của người lao động nhằm tạo ra động lực làm việc. Nhu cầu thành tích với mật độ phân bố càng lớn thì mức độ mang lại hiệu quả công việc của người lao động càng cao, thúc đẩy họ làm việc tốt hơn nhu cầu quyền lực và nhu cầu liên minh. Học thuyết hai nhân tố của HERZBERG Frederick Herzberg là lý thuyết gia quản trị người Hoa Kỳ. Herzberg, liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động có hai nhóm yếu tố đó là: yếu tố “thúc đẩy” và “duy trì”.
Vì vậy học thuyết của Frederick Herzberg còn được gọi là học thuyết hai nhóm yếu tố hay song tố. Các yếu tố thúc đẩy hay là các yếu tố động viên như: Bản thân công việc, tính trách nhiệm, thành tựu, sự công nhận, sự phát triển, sự tiến bộ. Đây là những yếu tố gắn với cảm xúc tích cực, liên quan đến tính chất công việc, có tác dụng tạo 12 ra sự hài lòng và thỏa mãn công việc. Tuy nhiên, nếu thiếu những yếu tố này, người lao động vẫn có thể làm việc, nhưng họ sẽ tỏ ra không hài lòng và thiếu hứng thú làm việc.
Những điều này khiến tinh thần bất ổn. Các yếu tố duy trì là những yếu tố cơ bản trong tổ chức như: Chính sách của tổ chức, sự giám sát công việc tại nơi làm việc, tiền lương, quan hệ với đồng nghiệp và quan hệ với cấp trên. Tập hợp các yếu tố trong nhóm này chỉ có tác dụng duy trì trạng thái hoạt động làm việc bình thường.