Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM Ở CẤP TỈNH 1. Những vấn đề chung về việc làm 1. Khái niệm, đặc điểm việc làm Việc làm là khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm hiểu. Ở các ngành khoa học khác nhau như: xã hội học, kinh tế học, chính sách công, quản lý công… mỗi tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về thuật ngữ “việc làm”.
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung mang tính khái quát bao trùm về việc làm. Mác cho rằng: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó” [8, tr. Dưới góc độ kinh tế - xã hội: việc làm thường được biểu hiện dưới ba hình thức sau đây: Một là, việc làm là làm một công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật. Điều này có thể hiểu là việc người lao động bỏ công sức lao động và được nhận lại thành quả lao động của chính mình sau một quá trình tham gia vào hoạt động lao động có thể bằng chân tay hoặc lao động bằng trí óc.
Hai là, việc làm tạo ra thu nhập. Tuy nhiên hoạt động lao động này phải phù hợp với chuẩn mực của xã hội dưới góc độ pháp lý, một hoạt động lao động sẽ không được coi là việc làm nếu hoạt động lao động tạo đó ra thu nhập nhưng trái pháp luật và không được pháp luật thừa nhận. Ba là, yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Theo quan niệm quốc tế: Tổ chức Lao động quốc tế (Viết tắt là ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm với các biểu hiện như sau: “Người có 9 Luan van việc làm là những người làm một việc gì đó, được trả tiền công, có lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì thu nhập hay vì lợi ích gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [5, tr.
Như vậy, người có việc làm bao gồm những người lao động đang làm việc có thu nhập đem lại vật chất để nuôi sống cho bản thân, gia đình hoặc mang lại lợi ích cho xã hội. Đây là khái niệm được phần đông các quốc gia đang sử dụng bởi tính mềm dẻo, phù hợp với nền kinh tế thị trường theo hướng hiện đại. Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Lao động năm 2012 và khoản 2 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [23]. Theo quan điểm trên, nội hàm của khái niệm việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố là hoạt động lao động, tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải hợp pháp, cụ thể: Thứ nhất, việc làm phải là hoạt động lao động của con người, thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm, dịch vụ.
Thứ hai, việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập. Thu nhập chính là nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy NLĐ làm việc để tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình và cho xã hội. Thứ ba, hoạt động lao động tạo ra thu nhập chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Quan điểm về việc làm nêu tại Bộ Luật Lao động năm 2012 ở nước ta là tương đối rộng, linh hoạt và mềm dẻo.
Trong phạm vi của luận văn tác giả sử dụng khái niệm này để làm cơ sở cho công tác nghiên cứu. Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Có thể hiểu, 10 Luan van giải quyết việc làm cho người lao động là tạo ra các cơ hội cho người lao động có việc làm phù hợp với năng lực và sở trường của mình. Theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động trong xã hội có việc làm.
Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm là các biện pháp nhằm tạo ra việc làm cho người lao động (chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm) nhằm duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm 1. Đối với kinh tế - xã hội Về mặt kinh tế: việc làm gắn liền với vấn đề sản xuất. Vì vậy, hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất.
Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế. Về mặt xã hội: bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội. Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nạn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là từ vấn đề việc làm và thất nghiệp.
Đối với chính trị, pháp lý Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh và sự ổn định của mỗi quốc gia. Việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, cấp bách nếu 11 Luan van không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị. Trên bình diện pháp lý: việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể.
Đối với quốc gia, quốc tế Đối với mỗi quốc gia: chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Đối với quốc tế: vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình.
Điều này giúp cân bằng lao động. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về việc làm 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về việc làm 1. Khái niệm Theo từ điển Luật học định nghĩa “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp hành, điều hành, quản 12 Luan van lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước” [48]. Theo đó, có thể hiểu quản lý nhà nước về việc làm là sự tác động có tổ chức của nhà nước và điều chỉnh thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các công cụ chính sách, do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm từ Trung ương xuống cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm bảo đảm việc làm cho người lao động; đồng thời sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn lao động của quốc gia. Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về việc làm Một là, chủ thể của hoạt động quản lý nhà nước về việc làm là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân được nhà nước trao quyền.
Trong đó, chủ thể quản lý trực tiếp nhất là bộ máy quản lý nhà nước về việc làm từ Trung ương đến cơ sơ. Hai là, đối tượng quản lý nhà nước về việc làm là người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc làm. Ba là, quản lý nhà nước về việc làm là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng các công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch… để quản lý. Bốn là, mục tiêu của quản lý nhà nước về việc làm nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động; đồng thời sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn lao động của quốc gia.
Vai trò quản lý nhà nước về việc làm Thứ nhất, quản lý nhà nước về việc làm góp phần bảo đảm trực tiếp thực hiện chức năng của nhà nước, đóng vai trò quyết định trong hoạt động quản lý đối với mọi mặt đời sống xã hội, đảm bảo cho các mối quan hệ xã hội diễn ra trong trật tự và ổn định. Bởi việc làm là một lĩnh vực quan trọng trong 13 Luan van đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi trong các hoạt động kinh tế. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân; đối với kinh tế, việc làm là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân; về mặt xã hội, nó phản ánh quá trình phát triển kinh tế - xã hội.