Chương 1: Vai trò của truyền hình đối với phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng Chương 2: Thực trạng thông tin truyền hình về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình 15 z Chƣơng 1: VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO HẢI PHÕNG 1. Những khái niệm cơ bản 1. Truyền hình Theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, "Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động" [33, tr. Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ nhƣ vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội.
Ngày nay, truyền hình là một phần thiết yếu trong đời sống của mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc cũng nhƣ toàn nhân loại. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tƣ tƣởng, văn hóa cũng nhƣ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Truyền hình đã trở thành phƣơng tiện truyền thông quen thuộc trong mỗi gia đình, hiện nay chiếc ti vi đƣợc ngƣời ta sáng chế theo chiều hƣớng màn hình rộng ra, mỏng lại (LCD) và loại màn hình nhỏ gọn (ví dụ: xem truyền hình trên điện thoại di động). Sự tiện dụng theo hƣớng tích hợp truyền thông đa phƣơng tiện đang làm cho truyền hình có những hƣớng phát triển mới.
Việc phát sóng truyền hình qua vệ tinh đã làm không gian trái đất “thu nhỏ”, hàng nghìn kênh truyền hình đan xen trong không gian xung quanh ta. Có nhiều quan niệm về truyền hình đƣợc nhìn nhận cả tích cực và tiêu cực nhƣng vai trò của truyền hình trong xã hội thì khó có thể phủ nhận. Là một loại hình truyền thông đại chúng, tác phẩm báo chí truyền hình mang những đặc điểm chung của tác phẩm báo chí, ngoài ra còn có một số đặc điểm mang tính đặc thù: Tính thời sự: Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí nhƣng truyền hình với tƣ cách là phƣơng tiện thông tin đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phƣơng tiện khác. Với truyền hình, sự kiện đƣợc 16 z phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra, thậm chí khi nó đang diễn ra, ngƣời xem có thể quan sát một cách chi tiết, tƣờng tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình.
Truyền hình có khả năng phát sóng 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho ngƣời xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật các tin tức mới nhất. Đây là ƣu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác. Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh: ƣu thế của truyền hình là chuyển tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc. Tính phổ cập và quảng bá: Do những ƣu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ ngƣời xem cùng một lúc.
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng. Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ: một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu đƣợc đƣa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp thế giới, đƣợc hàng tỉ ngƣời biết đến. Ngày nay, ngồi tại một địa điểm nhƣng ngƣời ta vẫn có thể nắm bắt đƣợc sự kiện diễn ra khắp thế giới. Khả năng thuyết phục công chúng: Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc 2 tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh có độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh vào nhận thức của con ngƣời.
Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chúng kiến tận mắt của công chúng. Đây là lợi thế của của truyền hình so với các loại hình báo in và phát thanh. Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân: Các chƣơng trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn ngƣời xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho ngƣời xem thấy đƣợc thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng. Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dƣ luận mạnh mẽ.
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo nên sự tác động của dƣ luận ngày càng rộng rãi. Chính vì thế, truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân. 17 z Với những thế mạnh đặc thù của mình, truyền hình ngày càng khẳng định vai trò trong sự phát triển của đời sống xã hội. Truyền hình đã trở thành phƣơng tiện truyền thông quen thuộc trong mỗi gia đình, với mỗi ngƣời.
Sự phát triển của truyền hình phản ánh những bƣớc tiến của nhân loại và cũng cho thấy sự vận động để thích ứng với nhu cầu của khán giả và những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Biển đảo Biển đảo là khái niệm bao hàm các yếu tố liên quan đến đƣờng biên giới, ranh giới trên biển và các đảo, các quần đảo thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia. Biển Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", đại dƣơng là khối nƣớc mặn tạo nên phần lớn thủy quyển của một hành tinh. Biển là một vùng nƣớc mặn rộng lớn nối liền với các đại dƣơng, hoặc là các hồ lớn chứa nƣớc mặn mà không có đƣờng thông ra đại dƣơng một cách tự nhiên.
Ví dụ: Biển Đông, Biển Hoa Đông. Nhƣ vậy, biển là phần đại dƣơng ít nhiều bị ngăn cách bởi lục địa, các đảo hoặc vùng cao của đáy, có chế độ thủy văn riêng biệt. Theo Luật biển Việt Nam, vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, đƣợc xác định theo luật Việt Nam, điều ƣớc quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ƣớc của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Cụ thể: - Nội thủy là vùng nƣớc tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đƣờng cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
- Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đƣờng cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển Việt Nam. - Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. - Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dƣới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, 18 z các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.
Trong trƣờng hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đƣờng cơ sở chƣa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó đƣợc kéo dài đến 200 hải lý tính từ đƣờng cơ sở. Còn nếu mép ngoài của rìa lục địa này vƣợt quá 200 hải lý tính từ đƣờng cơ sở thì thềm lục địa nơi đó đƣợc kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đƣờng cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đƣờng đẳng sâu 2. - Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đƣờng cơ sở. Đảo Theo Điều 121 của Công ƣớc 1982 của Liên Hợp Quốc về biển, "Đảo là một vung đất tự nhiên có nƣớc bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nƣớc" Quần đảo là một tập hợp các đảo, bảo gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nƣớc tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.
Để đƣợc coi là đảo thì cần phải hội tụ các điều kiện sau đây: - Nền nổi này phải gắn liền với đáy biển. - Nền nổi này phải là nền đất và nhƣ đất liền. - Đảo phải có nƣớc bao bọc. Vì vậy, một đảo nối liền với bán đảo khi thủy triều xuống thấp có thể làm mất tính đảo trong khi mộ đảo nối liền bởi một cây cầu hay một đƣờng hầm không làm mất tính đảo.
- Khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nƣớc. Điều này có nghĩa loại bỏ tất cả các bãi cạn nửa chìm, nửa nổi khỏi các định nghĩa về đảo. Kinh tế biển đảo Cho đến nay, việc xác định nội dung của kinh tế biển đảo vẫn còn là vấn đề để ngỏ. Về cơ bản, kinh tế biển đảo là khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là ngƣời ta có thể không tranh cãi nhiều về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển đảo mà phần phải bàn luận nhiều hơn thuộc về các lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển.
Do tính đặc thù của môi trƣờng biển đảo, mọi hoạt động của kinh 19 z tế biển đảo đều liên quan mật thiết và đƣợc quyết định từ trong đất liền nên không thể nói về kinh tế biển đảo mà không tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển đảo. Tuy nhiên, để có một khái niệm mang tính quy ƣớc, có thể định nghĩa kinh tế biển đảo nhƣ sau: Kinh tế tiển đảo là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, đảo và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển đảo. Từ đó rút ra, kinh tế biển đảo bao gồm: - Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, đảo: kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); khai thác dầu khí ngoài khơi; du lịch biển; làm muối; dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; kinh tế đảo.