Tổng quan luận án

Biển và vùng ven biển giữ vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, công tác quản lý kinh tế biển đã đạt được những chuyển biến bước đầu. Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế biển vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: khai thác chưa hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; tình trạng ô nhiễm môi trường biển còn diễn biến phức tạp; khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu.

Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh ven biển: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, sở hữu bờ biển dài trên 670 km cùng tiềm năng về giao thương hàng hải, thủy sản, du lịch và công nghiệp ven biển. Dù có khoảng cách địa lý liền kề và điều kiện tự nhiên tương đồng, các tỉnh trong khu vực thời gian qua chủ yếu phát triển kinh tế biển theo các định hướng trùng lặp (tập trung xây dựng cảng biển, khai thác du lịch biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản), dẫn đến việc triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của toàn vùng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập trong quản lý nhà nước cấp tỉnh.

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: "Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam", chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 62 34 04 10), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền thực hiện tại Trường Đại học Thương mại năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Xuân Hậu và PGS.TS. Hoàng Văn Thành, được xây dựng nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển ở địa phương cấp tỉnh và khảo sát thực trạng tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, luận án đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển của các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế biển;
  2. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam giai đoạn 2013-2017, qua đó rút ra các đánh giá về kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân;
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam thời gian đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam. Luận án tiếp cận vai trò của nhà nước qua 4 nội dung chính: định hướng phát triển; tạo lập khuôn khổ pháp luật và môi trường; can thiệp trực tiếp và điều tiết nguồn lực; kiểm tra, thanh tra và giám sát thực thi chính sách.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Nghiên cứu 4 nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh gồm: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách; tổ chức bộ máy quản lý; tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát trong phát triển kinh tế biển.
  • Về không gian: Địa bàn vùng biển và vùng ven biển của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).
  • Về thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập trong giai đoạn 2013-2017; các giải pháp đề xuất định hướng áp dụng đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu về phát triển kinh tế biển nói chung

  • Công trình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2014 - tái bản), Khoa học về biển và kinh tế miền biển, NXB Chính trị quốc gia, ghi nhận các tư tưởng từ Hội nghị về biển lần thứ nhất năm 1977 tại Nha Trang về kết hợp kinh tế với quốc phòng, di dân ra vùng ven biển và đảo.
  • Luật Biển Việt Nam năm 2012 khẳng định 4 nguyên tắc phát triển kinh tế biển và xác định 6 ngành nghề ưu tiên: dầu khí; vận tải biển và cảng biển; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; khoa học - công nghệ biển; phát triển nguồn nhân lực biển.
  • Tác giả Lê Quý Quỳnh (2015), Phát triển kinh tế biển kết hợp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, phân tích bối cảnh an ninh Biển Đông gắn với phát triển kinh tế.
  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Khiêm (2012), Nghiên cứu giải pháp về vốn đầu tư khai thác cảng biển Việt Nam, khảo sát cơ cấu vốn ODA, FDI tại miền Bắc, miền Trung và TP. Hồ Chí Minh, tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Malaysia.
  • Sherry Heileman biên tập (2008), Nguyễn Công Minh và Nguyễn Đức Tú dịch, Sổ tay đánh giá tiến độ và kết quả của công tác quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển (ICOM), cung cấp hệ thống chỉ thị thể chế, sinh thái, kinh tế, xã hội.
  • Timothy Beatley (2009), Planning for Coastal Resilience, phân tích biến đổi khí hậu tác động đến sinh kế ven biển, các công cụ CMSP và ICZM.
  • Tác giả Nguyễn Chu Hồi (2005), Cơ sở tài nguyên và môi trường biển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, hệ thống hóa dữ liệu tài nguyên đất, nước mặt, nước ngầm vùng ven biển và hải đảo.
  • Kỷ yếu hội thảo Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển thủy sản Việt Nam (2007) do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức; Đề án hợp tác quốc tế về biển đến 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008); Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan đến năm 2020 (2009).

Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển

  • Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay (Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, 2017) với các bài viết của Vũ Sỹ Tuấn (về quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển và Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo 2015), Nguyễn Chu Hồi (về tính trội, tính đa dụng và tính liên kết của miền Trung), Lưu Đức Hải (về năng lượng tái tạo vùng biển ven bờ và kéo điện ra đảo).
  • Bài viết của Trần Thị Thu Trang (2015) trên Tạp chí Cộng sản chỉ rõ lao động ven biển chiếm 23,88% cả nước nhưng chất lượng nguồn nhân lực biển Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước châu Á), chỉ số KEI đạt 3,02 điểm (xếp thứ 102/133 quốc gia).
  • Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Liên (2014) về điện gió Tuy Phong - Bình Thuận; bài viết của Nguyễn Chu Hồi (2014) trên Tạp chí Lý luận chính trị về chuyển đổi từ "kinh tế nâu" sang "kinh tế xanh" và hồ sơ thiết lập vùng biển nhạy cảm đặc biệt (PSSA) trình Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO).
  • Nghiên cứu quốc tế của Anne Maria Eikeset và cộng sự (2018) trên tạp chí Marine Policy làm rõ khái niệm "Blue growth" theo định nghĩa của OECD; nghiên cứu của Brian Clark Howard (2018) trên Marine Policy về sự tham gia của các bên liên quan (dẫn chứng dự án chế biến phụ phẩm cá của FAO tại Uganda; khung quản lý hệ sinh thái PEMSEA 2016).
  • Bài viết của Vũ Thị Ánh Tuyết (2016) trên Tạp chí Tài nguyên và Môi trường phản ánh hạn chế trong dự án điều tra cơ bản Biển Đông trị giá 3.500 tỷ đồng và nhấn mạnh yêu cầu phối hợp liên ngành.

Hướng thứ ba: Các nghiên cứu quản lý nhà nước về kinh tế biển tại địa phương và khu vực

  • Các luận án tiến sĩ: Lại Lâm Anh (2013) về kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia, Singapore; Lê Minh Thông (2011) về chính sách kinh tế ven biển tỉnh Thanh Hóa; Đoàn Vĩnh Tường (2009) về thu hút vốn kinh tế biển tại Khánh Hòa; Đặng Quốc Khánh (2012) về quản lý quy hoạch xây dựng khu du lịch ven biển Bắc Trung Bộ.
  • Các công trình chuyên đề: Trần Ngọc Ngoạn và Hà Huy Ngọc (2013) về liên kết du lịch Bắc Trung Bộ gắn với Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC); Thân Trọng Thụy và Phạm Xuân Hậu (2012) về khu kinh tế ven biển và mô hình công nghiệp biển IME tại Đà Nẵng; Hà Văn Siêu và Đào Duy Tuấn (2011) về quy hoạch du lịch duyên hải miền Trung.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Qua tổng quan tài liệu, tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo từng địa phương riêng rẽ (như Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đà Nẵng) hoặc tập trung sâu vào một ngành đơn lẻ (cảng biển, du lịch biển, nuôi trồng thủy sản, điện gió). Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển của chính quyền cấp tỉnh cho toàn bộ 6 tỉnh Bắc Trung Bộ dưới góc độ liên ngành, liên vùng và liên cấp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xác lập khung phân tích quản lý nhà nước cấp tỉnh áp dụng trên phạm vi không gian toàn vùng Bắc Trung Bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết hành chính công và quản lý kinh tế để xác định khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế biển. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế biển là hoạt động của các cơ quan hành pháp được phân cấp về quản lý tài nguyên và các hoạt động kinh tế biển, nhằm bảo đảm các hoạt động kinh tế diễn ra theo quy định của pháp luật, mang lại lợi ích cho địa phương và quốc gia.

Về phạm vi ngành, luận án phân định các ngành kinh tế biển truyền thống (đánh bắt thủy sản, làm muối, vận tải biển), các ngành đã thiết lập (chế biến thủy sản, cảng biển, đóng tàu, du lịch biển, khai thác dầu khí nước nông) và các ngành mới nổi theo phân loại của OECD (nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, dầu khí nước sâu, điện gió ngoài khơi, công nghệ sinh học biển). Quản lý nhà nước về kinh tế biển mang 4 đặc điểm riêng biệt:

  1. Gắn liền với công tác khai thác, bảo vệ tài nguyên và giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia;
  2. Phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện tự nhiên, chu kỳ sinh vật và không gian biển;
  3. Chịu tác động lớn bởi tính bất định và độ rủi ro cao của môi trường biển;
  4. Gắn liền với chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Khung nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh gồm 4 trụ cột:

  • Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế biển;
  • Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương;
  • Tổ chức thực hiện các chính sách và chương trình phát triển kinh tế biển;
  • Kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý tranh chấp trên biển.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận định tính và phân tích dữ liệu khảo sát thực tế:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích hệ thống, logic kết hợp lịch sử và so sánh tổng hợp nhằm khái quát hóa cơ sở lý luận, nghiên cứu văn bản pháp quy và đánh giá kinh nghiệm thực tiễn.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu thống kê, văn kiện từ Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018, Luật Biển Việt Nam 2012, các quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Niên giám thống kê, báo cáo tổng kết giai đoạn 2013-2017 của UBND và các Sở (Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Du lịch, Ban Quản lý Khu kinh tế) thuộc 6 tỉnh Bắc Trung Bộ.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (điều tra bằng bảng hỏi): Được thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2018 trên địa bàn 6 tỉnh. Tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu, thu về 300 phiếu, trong đó có 286 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 95,33%).
Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu hợp lệ Lĩnh vực / Đơn vị công tác cụ thể
Cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh 100 96 UBND tỉnh, Sở KH&ĐT, Sở GTVT, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT, Sở KH&CN, Sở Tài chính, Sở VHTTDL, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh
Doanh nghiệp kinh tế biển 200 190 Doanh nghiệp thuộc 3 lĩnh vực: Khai thác và nuôi trồng hải sản, Du lịch biển, Vận tải biển
Tổng cộng 300 286 Tỷ lệ hợp lệ đạt 95,33%
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Dữ liệu sơ cấp sau khi làm sạch được mã hóa và tổng hợp thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển của chính quyền cấp tỉnh

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về kinh tế biển và quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với phát triển kinh tế biển. Tác giả phân tích 5 đặc điểm cơ bản của kinh tế biển:

  1. Giá trị của kinh tế biển gắn liền với vị trí địa lý, không gian, chất lượng cảnh quan và hệ sinh thái;
  2. Quá trình tổ chức sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và chu kỳ sinh vật;
  3. Độ rủi ro và tính bất định trong đầu tư khai thác biển cao;
  4. Kinh tế biển gắn liền với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái đại dương;
  5. Hoạt động kinh tế biển luôn gắn chặt với chủ quyền lãnh thổ quốc gia theo Công ước Luật Biển năm 1982.

Tác giả xác định vai trò của quản lý nhà nước trong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý, khai thác bền vững tài nguyên, thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn và bảo vệ an ninh quốc phòng. Nguyên tắc quản lý của chính quyền cấp tỉnh bao gồm: tập trung thống nhất, hiệu lực - hiệu quả, bảo đảm tính toàn diện và phù hợp với thực tiễn địa phương. Nội dung quản lý cấp tỉnh được phân định thành 4 khâu: xây dựng quy hoạch/chính sách; kiện toàn bộ máy tổ chức; tổ chức thực thi chính sách đầu tư, hạ tầng, nhân lực, khoa học công nghệ; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm.

Chương 1 cũng tổng hợp các nhân tố khách quan (điều kiện tự nhiên, xu thế quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia) và nhân tố chủ quan (năng lực cán bộ, sự phối hợp giữa các sở ngành) ảnh hưởng đến công tác quản lý. Phần cuối chương đúc kết kinh nghiệm quản lý kinh tế biển từ một số địa phương trong nước (như mô hình công nghiệp biển IME tại Đà Nẵng, chính sách huy động vốn tại Khánh Hòa, chính sách đất đai và hạ tầng tại Thanh Hóa) để rút ra bài học cho 6 tỉnh Bắc Trung Bộ về quy hoạch không gian biển và phân cấp quản lý.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Chương 2 phản ánh toàn diện bức tranh kinh tế - xã hội và công tác quản lý nhà nước về kinh tế biển tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn 2013-2017:

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội và quy mô các ngành biển: Tác giả tổng hợp dữ liệu thứ cấp qua hệ thống bảng biểu về tốc độ tăng trưởng GRDP (Bảng 2.1), GRDP bình quân đầu người (Bảng 2.2), quy mô dân số các huyện ven biển và đảo (Bảng 2.3), doanh thu du lịch (Bảng 2.4), lượng khách du lịch (Bảng 2.5), sản lượng khai thác thủy hải sản (Bảng 2.6), số lượng tàu thuyền đánh bắt từ năm 2014 đến 2017 (Bảng 2.7) và hiện trạng các khu kinh tế ven biển trong vùng (Bảng 2.8) gồm Nghi Sơn (Thanh Hóa), Đông Nam Nghệ An, Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Đông Nam Quảng Trị và Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên Huế).
Chỉ tiêu / Lĩnh vực thực trạng (2013-2017) Đặc điểm ghi nhận tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ
Quy hoạch khu kinh tế ven biển Hình thành chuỗi khu kinh tế: Nghi Sơn, Đông Nam Nghệ An, Vũng Áng, Hòn La, Đông Nam Quảng Trị, Chân Mây - Lăng Cô
Du lịch biển, đảo Doanh thu và lượt khách tăng trưởng liên tục; hình thành các trung tâm: Sầm Sơn, Hải Tiến, Cửa Lò, Đồng Hới, Lăng Cô
Khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng đánh bắt tăng; đội tàu cá được đầu tư mở rộng công suất đánh bắt xa bờ
Cơ cấu bộ máy quản lý cấp tỉnh Thành lập Chi cục Biển và Hải đảo trực thuộc Sở TN&MT; lập Ban chỉ đạo biển, đảo cấp tỉnh nhưng cơ quan thường trực thiếu thống nhất giữa các tỉnh
Khảo sát doanh nghiệp (190 phiếu) Đánh giá chính sách ưu đãi đầu tư, hạ tầng ven biển, ứng dụng KH&CN và đào tạo nguồn nhân lực (Bảng 2.10 - 2.13)
Khảo sát cán bộ QLNN (96 phiếu) Đánh giá khâu tổ chức thực thi và phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về kinh tế biển (Bảng 2.14)
  • Phân tích thực trạng quản lý theo 4 nội dung:
    1. Công tác quy hoạch, kế hoạch và ban hành chính sách: Các tỉnh đã chủ động cụ thể hóa nghị quyết trung ương thành các chương trình hành động phát triển kinh tế biển đến năm 2020 và 2025. Tuy nhiên, quy hoạch không gian biển còn rời rạc, các tỉnh có quy hoạch ngành tương tự nhau dẫn đến cạnh tranh nội vùng gay gắt (cùng mở cảng nước sâu, cùng phát triển khu kinh tế tổng hợp).
    2. Tổ chức bộ máy quản lý: Tại cấp tỉnh, Chi cục Biển và Hải đảo thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường giữ vai trò cơ quan tham mưu quản lý tổng hợp. Song việc bố trí cơ quan thường trực Ban chỉ đạo biển, đảo cấp tỉnh thiếu tính đồng bộ: một số tỉnh đặt tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, nơi đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nơi lại giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, gây khó khăn cho việc điều phối liên ngành.
    3. Tổ chức thực hiện: Thực thi chính sách hỗ trợ ngư dân, đầu tư hạ tầng các khu kinh tế ven biển đạt kết quả bước đầu nhưng nguồn vốn đầu tư công còn phân tán, tỷ lệ giải ngân chưa đồng đều.
    4. Kiểm tra, giám sát: Công tác thanh tra, kiểm tra việc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại các khu kinh tế và dự án ven biển còn nhiều hạn chế; sự cố môi trường biển năm 2016 đã phản ánh lỗ hổng trong kiểm soát xả thải công nghiệp.
  • Kết quả khảo sát sơ cấp: Phân tích kết quả từ 286 phiếu khảo sát cho thấy doanh nghiệp đánh giá chính sách ưu đãi đầu tư và thủ tục hành chính đã có cải thiện nhưng hạ tầng kết nối cảng biển và nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là điểm nghẽn; cán bộ quản lý thừa nhận sự phối hợp giữa các sở ngành còn thiếu tính kết nối.

Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước với phát triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Trên cơ sở dự báo bối cảnh quốc tế và các nhân tố tác động, Chương 3 định hình quan điểm quản lý gắn với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch và hoàn thiện cơ chế, chính sách giai đoạn 2020-2025: Chuyển đổi từ quy hoạch ngành đơn lẻ sang quy hoạch không gian biển tích hợp; phân định rõ phân khu chức năng khai thác kinh tế ven biển của 6 tỉnh để tránh đầu tư trùng lặp.
  2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển doanh nghiệp và huy động nguồn lực: Rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, đa dạng hóa phương thức huy động vốn ngoài ngân sách (FDI, PPP, ODA) cho hệ thống hạ tầng ven biển và logistics cảng biển.
  3. Tăng cường quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển: Quản lý chặt chẽ công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM); kiểm soát hoạt động đánh bắt hải sản ven bờ kết hợp bảo vệ nguồn lợi thủy sản; quản lý các khu du lịch biển nghỉ dưỡng liên hoàn từ Sầm Sơn, Cửa Lò đến Lăng Cô.
  4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế biển: Đào tạo nghề chuyên sâu cho lao động vùng ven biển theo 6 ngành kinh tế biển ưu tiên; liên kết với các trường đại học đào tạo các chuyên ngành kinh tế biển, kinh tế hàng hải, logistics và đại dương học.
  5. Tăng cường liên kết vùng giữa các địa phương trong khu vực Bắc Trung Bộ: Xây dựng cơ chế phối hợp chính thức giữa UBND 6 tỉnh trong xúc tiến đầu tư, chia sẻ dữ liệu tài nguyên biển, phát triển chuỗi sản phẩm du lịch biển dùng chung và phối hợp bảo vệ môi trường vịnh, đầm phá.
  6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư ven biển: Nâng cao ý thức của cộng đồng ngư dân về bảo tồn tài nguyên, tuân thủ quy định pháp luật hàng hải và bảo vệ môi trường biển, đảo gắn với giữ vững an ninh quốc phòng.

Đồng thời, chương này đưa ra các kiến nghị cụ thể:

  • Với Chính phủ: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về phân cấp quản lý biển cho chính quyền địa phương; thành lập quỹ hỗ trợ phát triển kinh tế biển; chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia dùng chung.
  • Với các hiệp hội ngành nghề: Nâng cao vai trò cầu nối thông tin giữa doanh nghiệp biển với cơ quan quản lý nhà nước; hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề cá và mở rộng thị trường tiêu thụ hải sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng kết các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển của chính quyền cấp tỉnh.
  • Xây dựng khung lý luận gồm 4 nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh (quy hoạch/chính sách, bộ máy, thực thi, kiểm tra/giám sát) đặt trong mối quan hệ đa ngành, liên vùng và liên cấp.

Về mặt thực tiễn:

  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm từ mô hình quản lý kinh tế biển của các địa phương trong nước (Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thanh Hóa) có khả năng vận dụng vào khu vực Bắc Trung Bộ.
  • Xử lý bộ dữ liệu kép: Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2017 và dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát 286 đối tượng (190 doanh nghiệp và 96 cán bộ quản lý nhà nước) thực hiện trong năm 2018 tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ. Phân tích thực chứng này làm sáng tỏ nguyên nhân của tình trạng trùng lặp trong quy hoạch hạ tầng cảng biển và khu kinh tế.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp quản lý nhà nước đồng bộ và các kiến nghị cụ thể với Chính phủ, các hiệp hội ngành nghề áp dụng cho giai đoạn đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi dữ liệu thứ cấp dừng lại ở mốc năm 2017, điều tra khảo sát sơ cấp tiến hành trong năm 2018; do đó chưa phản ánh đầy đủ tác động thực tế của Nghị quyết 36-NQ/TW được ban hành vào cuối năm 2018.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu sơ cấp chủ yếu sử dụng thống kê mô tả, tần suất trên phần mềm Excel; chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng hoặc kiểm định giả thuyết thống kê đa biến phức tạp để lượng hóa mức độ tác động của từng công cụ quản lý.
  • Mối quan hệ liên kết vùng giữa 6 tỉnh chỉ mới được phân tích trên giác độ hợp tác tự nguyện, chưa đi sâu vào cơ chế thể chế tài chính và thẩm quyền pháp lý bắt buộc.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Kéo dài chuỗi số liệu thứ cấp sang giai đoạn sau năm 2018 nhằm đánh giá tác động của các chính sách phát triển bền vững kinh tế biển mới.
  • Ứng dụng các phương pháp phân tích định lượng nâng cao (như mô hình hồi quy đa biến, mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) để đo lường định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế biển.
  • Đi sâu nghiên cứu mô hình thể chế điều phối vùng có thẩm quyền pháp lý ràng buộc cho 6 tỉnh duyên hải miền Trung.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh: UBND các tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Du lịch và Ban Quản lý các Khu kinh tế ven biển của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ có thể sử dụng các phân tích tại Chương 2 và giải pháp tại Chương 3 để rà soát quy hoạch phát triển kinh tế biển, hoàn thiện quy chế phối hợp quản lý.
  • Các nhà hoạch định chính sách trung ương: Các bộ, ngành liên quan đến kinh tế biển có thể tham khảo phần kiến nghị của Chương 3 để xây dựng cơ chế phân cấp quản lý vùng và hoàn thiện quy hoạch không gian biển quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển; tham khảo khung lý luận quản lý cấp tỉnh tại Chương 1 và bộ câu hỏi khảo sát thực trạng trong luận án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát các nhóm đối tượng nào và số lượng mẫu hợp lệ là bao nhiêu?
Nghiên cứu sinh thực hiện khảo sát trong 6 tháng cuối năm 2018 tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ. Tổng số phiếu phát ra là 300, thu về 286 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 95,33%). Mẫu hợp lệ gồm: 96 phiếu từ cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh (UBND tỉnh, Ban Quản lý Khu kinh tế và các Sở: KH&ĐT, GTVT, NN&PTNT, TN&MT, KH&CN, Tài chính, VHTTDL) và 190 phiếu từ doanh nghiệp hoạt động trong 3 ngành: khai thác và nuôi trồng hải sản, du lịch biển, vận tải biển.

2. Theo Luật Biển Việt Nam năm 2012 được luận án trích dẫn, Nhà nước ưu tiên phát triển những ngành kinh tế biển nào?
Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định 6 ngành nghề kinh tế biển được ưu tiên phát triển: (1) Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; (2) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và dịch vụ hàng hải; (3) Du lịch biển và kinh tế đảo; (4) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (5) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ biển; (6) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.

3. Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế biển được luận án định nghĩa như thế nào?
Theo nghĩa hẹp được tác giả xây dựng, quản lý nhà nước về kinh tế biển là hoạt động của các cơ quan hành pháp được phân cấp về quản lý tài nguyên và các hoạt động kinh tế biển, nhằm bảo đảm cho hoạt động kinh tế biển diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, mang lại lợi ích tối đa cho địa phương và quốc gia.

4. Vì sao công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ thời kỳ 2013-2017 còn bất cập?
Theo kết quả phân tích tại Chương 2, bên cạnh Chi cục Biển và Hải đảo thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện tham mưu quản lý tổng hợp, việc thành lập Ban chỉ đạo biển, đảo cấp tỉnh lại không thống nhất về cơ quan thường trực: có tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, có tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có nơi lại đặt tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh. Điều này dẫn đến tình trạng quản lý phân tán theo ngành riêng lẻ, thiếu cơ quan điều phối chung có đủ thẩm quyền.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ?
Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện đến năm 2025: (1) Rà soát, bổ sung quy hoạch và hoàn thiện chính sách; (2) Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; (3) Tăng cường quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế biển; (4) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực biển; (5) Tăng cường liên kết vùng giữa 6 tỉnh; (6) Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư ven biển.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã hệ thống hóa khung lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế biển ở cấp độ chính quyền cấp tỉnh. Dựa trên số liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2017 và khảo sát sơ cấp 286 đối tượng năm 2018 tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, công trình đã chỉ rõ thực trạng phát triển trùng lặp, thiếu liên kết vùng và sự bất cập trong bộ máy điều phối quản lý. Hệ thống 6 nhóm giải pháp và các kiến nghị của luận án cung cấp luận cứ khoa học cho việc điều chỉnh quy hoạch không gian biển và nâng cao năng lực quản lý kinh tế biển của các tỉnh Bắc Trung Bộ đến năm 2025.