PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Biển, đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng, có vị trí chiến lược, có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến bảo vệ, quản lý để phát triển kinh tế biển, đảo. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương đưa Việt Nam thành “Quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”.
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa XII) vừa qua cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kinh tế biển và đã đề ra trong nghị quyết về mục tiêu, chủ trương của phát triển kinh tế biển bền vững. Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt. Chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển được giữ vững; công tác tìm kiếm cứu nạn, an toàn hàng hải cơ bản được đảm bảo; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện. Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; thệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện.
Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển.
Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới chưa được phát huy đầy đủ; việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn luan an 2 chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhực đã trở thành vấn đề cấp bách. Khoa học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tốt then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển và hợp tác quốc tế về biển chưa hiệu quả.
Trong bối cảnh mới của tình hình các nước trong khu vực, kinh tế biển chịu nhiều tác động của yếu tố bên ngoài, sự ảnh hưởng của các nước liên quan đến biển. Do vậy, muốn kinh tế biển phát triển, quản lý nhà nước (QLNN) phải được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, đi tiên phong để hỗ trợ, thúc đẩy các yếu tố khác cùng tham gia phát triển kinh tế biển. Chính vì vậy, nhiệm vụ QLNN về phát triển kinh tế biển là một nhiệm vụ mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế biển nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển là yếu tố không thể thiếu ở cấp quốc gia và ở các địa phương, đặc biệt là các địa phương ven biển.
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh ven biển: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Với chiều dài trên 670 km bờ biển, nguồn tài nguyên phong phú để phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực, trong đó đáng chú ý là những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản và nguồn lực con người. Biển đã đem lại cho khu vực Bắc Trung Bộ nhiều lợi thế lớn từ phát triển kinh tế hàng hải, khai thác hải sản, du lịch biển và phát triển các khu kinh tế ven biển. Các ngành kinh tế biển luôn chiếm tỷ trọng lớn trong phát triển kinh tế của Khu Vực.
Sáu tỉnh Bắc Trung Bộ đều thuộc vùng ven biển miền Trung, khoảng cách địa lý gần nhau, bên cạnh đó, có nhiều điểm tương đồng về địa hình, địa mạo, về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội cũng như điều kiện phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, các tỉnh này đều phát triển kinh tế biển theo định hướng gần giống nhau: phát triển cảng biển, du lịch biển, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản…điều này dẫn đến không phát huy lợi thế tối đa của khu vực và làm giảm khả năng cạnh tranh của từng tỉnh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, mà một nguyên nhân quan trọng là quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển kinh tế biển ở cấp tỉnh. Việc nghiên cứu QNNN về phát luan an 3 triển kinh tế biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, và trên thực tế, chưa có nhiều nghiên cứu về QLNN về phát triển kinh tế biển tại khu vực này.
Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn QLNN về phát triển kinh tế biển mà các tỉnh đã đạt được, những hạn chế thiếu sót còn tồn tại để tìm ra những giải pháp phù hợp hoàn thiện QLNN về phát triển kinh tế biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, qua đó thúc đẩy kinh tế biển phát triển. Điều nay đòi hỏi có những công trình nghiên cứu khoa học, tìm hiểu mô hình QLNN về phát triển kinh tế biển ở các tỉnh, các nội dung phân cấp QLNN của tỉnh về phát triển kinh tế biển đối với chính quyền tỉnh làm rõ những điểm mạnh để phát huy, điểm yếu để khắc phục, từ đó cơ sở luận chứng các giải pháp xây dựng và hoàn thiện QLNN về kinh tế biển của các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam, nhằm góp phần phát triển kinh tế biển cho một khu vực giàu tiềm năng về biển. Từ những lý do trên, thí sinh chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế biển các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về QLNN đối với việc phát triển kinh tế biển đã được đặt ra như: Nghiên cứu khai thác tiềm năng của biển, nghiên cứu cơ sở hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược và các kế hoạch dài hạn nhằm phát triển kinh tế biển, nghiên cứu phương thức quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển, các yếu tố ảnh hưởng đến người dân vùng ven biển, những vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững ở khu vực này, cũng như cách thức giải quyết những hậu quả của việc biến đổi khí hậu… Trong phạm vi của đề tài này, tác giả sẽ tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án trên ba vấn đề sau: Thứ nhất, các nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế biển nói chung.
Thứ hai, các nghiên cứu liên quan đến việc QLNN với phát triển kinh tế biển. Thứ ba, các nghiên cứu liên quan đến kinh nghiệm QLNN về phát triển kinh tế biển tại một số địa phương và khu vực có biển ở Việt Nam và một số nước của Khu vực ASEAN. Một số nghiên cứu về phát triển kinh tế biển nói chung - Cuốn “Khoa học về biển và kinh tế miền biển” (2014- Tái bản), tác giả Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, NXB Chính trị quốc gia. Ngày 2-8-1977, Hội luan an 4 nghị về biển lần thứ nhất của nước ta đã họp tại Nha Trang.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, đã tới dự và nói chuyện với Hội nghị. Trong bài nói chuyện, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích tiềm năng to lớn và vị trí rất quan trọng của biển nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản, nhưng hầu hết những nhận định, dự báo và những ý kiến quý báu của Đại tướng đóng góp cho Hội nghị vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Đặc biệt, những ý kiến chỉ đạo của Đại tướng về tầm quan trọng của biển trong chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược quân sự; quan điểm kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng; khai thác tài nguyên, khoáng sản ở biển, khai thác kết hợp với nuôi trồng trên biển, tận dụng diện tích nhân tạo trên mặt nước; đưa dân ra sinh sống ở vùng ben biển, thềm lục địa và các đảo gần bờ và ngoài khơi xa.
vẫn còn nguyên giá trị và phù hợp với bổi cảnh phát triển kinh tế của đất nước trong thời đại mới. [39] - Vấn đề quản lý kinh tế biển luôn được đặt lên hàng đầu trong việc thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước. Nhiều chính sách và qui định pháp luật có liên quan nhằm điều chỉnh về vấn đề kinh tế biển đã được đưa ra. Luật biển Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý kinh tế biển Việt Nam.
Trên cơ sở tôn trọng và thống nhất với Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, Luật biển Việt Nam cũng khẳng định rõ các nguyên tắc phát triển kinh tế biển Việt Nam là: (1) Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (2) Gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; (3) Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; (4) Gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo.