Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngư nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng gắn liền với tiến trình phát triển lịch sử, đời sống xã hội và an ninh quốc phòng của cư dân ven biển Việt Nam. Dọc dải duyên hải Nam Trung Bộ, điều kiện tự nhiên với bờ biển dài, hệ thống đầm phá, vũng vịnh cùng các hải đảo và ngư trường lớn đã sớm định hình phương thức mưu sinh dựa vào khai thác biển. Dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX), các chính quyền phong kiến Đàng Trong đã chú trọng xác lập quản lý, khuyến khích khai thác kinh tế biển kết hợp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Khóa luận "Ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI – XIX" do sinh viên Nguyễn Thị Thúy thực hiện (người hướng dẫn: TS Nguyễn Duy Phương, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2018) được triển khai nhằm tái hiện bức tranh toàn diện về hoạt động ngư nghiệp của khu vực này trong bốn thế kỷ lịch sử.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ tình hình ngư nghiệp Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX; đánh giá vị trí, vai trò của ngư nghiệp đối với đời sống kinh tế – xã hội của cư dân duyên hải và tiến trình lịch sử dân tộc; làm sáng tỏ vai trò của ngư dân trong công cuộc xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành vùng đất Nam Trung Bộ và hoạt động ngư nghiệp trước thế kỷ XVI.
    • Nhiệm vụ 2: Làm rõ các mặt hoạt động kinh tế ngư nghiệp của ngư dân Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, các chính sách của chính quyền phong kiến (chúa Nguyễn và vua triều Nguyễn) đối với ngư dân và ngư nghiệp, cùng những tác động kinh tế – văn hóa – xã hội của ngành này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ngư nghiệp vùng Nam Trung Bộ và các chính sách quản lý kinh tế biển của nhà nước phong kiến.
  • Phạm vi không gian: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tương ứng với địa bàn các tỉnh, thành phố ngày nay: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, cùng các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
  • Phạm vi thời gian: Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX. Đề tài tập trung vào giai đoạn cai trị của các chúa Nguyễn (Đàng Trong) và triều Nguyễn; không bao gồm thời kỳ Tây Sơn do hạn chế về nguồn sử liệu lưu trữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, tiếp cận vấn đề theo quan điểm sử học Mác-xít và đường lối nghiên cứu lịch sử kinh tế – xã hội truyền thống. Tác giả vận dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình phát triển của hoạt động đánh bắt, chế biến, lưu thông hải sản và sự hình thành, biến đổi của các chính sách nhà nước phong kiến qua các mốc thời gian cụ thể (từ năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa đến hết thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn).
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, mối liên hệ nhân quả giữa điều kiện tự nhiên, chính sách quản lý nhà nước và hoạt động thực tiễn của cư dân; khái quát hóa các quy luật phát triển kinh tế biển và vai trò của ngư dân trong bảo vệ chủ quyền.
  • Các phương pháp hỗ trợ: Thu thập và xử lý tư liệu thư tịch, phân tích văn bản, phương pháp so sánh – đối chiếu lịch sử và mô tả thực chứng.

Nguồn tư liệu sử dụng trong khóa luận gồm:

  1. Nguồn sử liệu thành văn cổ trung đại: Các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam Thực Lục, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí; Châu bản triều Tự Đức; các trước tác địa chí, ghi chép đương thời như Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Ô châu cận lục (Dương Văn An), hồi ký của Cristoforo Borri, Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán.
  2. Nguồn tài liệu nghiên cứu hiện đại: Các công trình chuyên khảo về kinh tế biển, văn hóa biển và lịch sử Đàng Trong của các tác giả Nguyễn Quang Trung Tiến, Nguyễn Duy Thiệu, Lê Văn Kỷ, Đỗ Bang, Trần Quốc Vượng, Li Tana, Lâm Thị Mỹ Dung, Trịnh Sinh...

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vùng biển đảo Nam Trung Bộ và hoạt động ngư nghiệp trước thế kỷ XVI

Chương 1 phác thảo bức tranh địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái, quá trình di dân mở cõi và tiền đề lịch sử của nghề cá Nam Trung Bộ:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Nam Trung Bộ trải dài gần 10 vĩ độ (từ 10°35’B đến 16°12’B và 107°12’Đ đến 109°20’Đ), diện tích tự nhiên gần 44.400 km². Địa hình đặc trưng với ¾ diện tích là đồi núi, ¼ là đồng bằng hẹp ven biển bị chia cắt mạnh bởi các nhánh Trường Sơn đâm ra biển, tạo nhiều vũng, vịnh, đầm phá (vịnh Xuân Đài, Cù Mông, Cam Ranh, đầm Nha Phu...). Khí hậu chia hai mùa mưa nắng rõ rệt, lượng mưa 1.500–2.500 mm tập trung vào mùa thu đông kèm bão lũ, phân hóa thành các tiểu vùng khí hậu (Quảng Nam – Quảng Ngãi, Bình Định – Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận).
  • Tài nguyên biển và hệ thống hải đảo: Vùng biển Nam Trung Bộ giàu tài nguyên thủy hải sản (cá, tôm, mực, rùa biển, hải yến, các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, đồi mồi, hải sâm). Các vựa muối lớn hình thành tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Đề Gi (Bình Định), Cù Mông (Phú Yên), Hòn Khói, Cam Thịnh (Khánh Hòa), Cà Ná, Thương Diêm (Ninh Thuận). Các đảo và quần đảo chiến lược gồm Cù Lao Chàm (15,5 km²), đảo Lý Sơn (Cù lao Ré và Cù lao Bờ Bãi), quần đảo Hoàng Sa (hơn 30 đảo trên diện tích 15.000 km², chia hai nhóm An Vĩnh và Lưỡi Liềm) và quần đảo Trường Sa (trải dài khoảng 500 hải lý).
  • Lịch sử hình thành vùng đất: Tiến trình mở cõi về phương Nam qua các mốc: năm 1471 (Lê Thánh Tông sáp nhập đất đai đến núi Thạch Bi), năm 1611 (Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên), năm 1653 (Nguyễn Phúc Tần lập phủ Thái Khang / Khánh Hòa) và năm 1697 (Nguyễn Phúc Chu lập phủ Bình Thuận). Đến năm 1834, vua Minh Mạng tổ chức thành hai phân vùng quản lý Tả Trực (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Tả Kỳ (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận).
  • Hoạt động ngư nghiệp trước thế kỷ XVI: Dấu tích khảo cổ tại di chỉ Xóm Cồn (Khánh Hòa), văn hóa Sa Huỳnh (bộ lạc Cau và bộ lạc Dừa) với các hiện vật xương cá, vỏ nhuyễn thể, chì lưới. Thời kỳ Champa để lại truyền thống đóng ghe bầu viễn dương, di tích tượng vũ nữ đuôi cá tại Mỹ Sơn và mảnh gốm Sa Huỳnh – Kalanay khai quật tại đảo Trường Sa Lớn. Ghi chép trong Ô châu cận lục (1550) khẳng định Xứ Quảng "bờ biển thì cá, muối là kho vô tận".

Chương 2: Tình hình ngư nghiệp vùng biển đảo Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI – XIX

Chương 2 là phần trọng tâm của khóa luận, phân tích toàn diện chính sách của nhà nước phong kiến, kỹ thuật đánh bắt, chế biến, thương mại và các nghề thủ công hỗ trợ ngư nghiệp.

1. Chính sách của chính quyền phong kiến đối với kinh tế ngư nghiệp

Nội dung chính sách Thời kỳ chúa Nguyễn (thế kỷ XVI – XVIII) Thời kỳ triều Nguyễn (thế kỷ XIX)
Tuần tiễu, chống cướp biển Đặt đồn cửa biển từ năm 1560; thành lập đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải, đội "tuần hải"; đánh lui cướp biển Nụy Khấu (Nhật Bản, năm 1585, 1599), Chà Và (1792 tại Hòn Ré) và Tàu Ô. Thiết lập hệ thống tấn, sở, đồn binh, pháo đài (Tấn thủ, Thủ ngự); năm 1833 cấp súng điểu thương, giáo trường cho dân Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; năm 1834 cấp thuyền, súng đạn cho dân đảo Lý Sơn tuần tiễu; năm 1836 quy định thể lệ binh thuyền tấn phận (50 dân bơi lội/tấn, cấp 2–3 thuyền ô).
Cứu hộ, cứu nạn Manh nha cứu hộ tàu buôn và thuyền cá bị nạn, ưu tiên bảo đảm an toàn tuyến thương mại biển. Năm 1811 Gia Long ban chiếu cứu nạn; năm 1820 Minh Mạng cấp dự trữ 100 quan tiền, 100 phương gạo ở mỗi sở cửa biển; năm 1825 ban hành định mức cứu trợ (chết đuối cấp 3 quan, sống sót cấp 3 tiền và 10 bát gạo); cứu hộ cả ngư dân nhà Thanh gặp nạn.
Quản lý đóng thuyền Kiểm soát phương tiện qua việc phân bổ số lượng thuyền của các đội biên chế nhà nước. Năm 1807 quy định thuyền đánh cá dài từ 9 thước trở xuống; năm 1815 siết chặt xuống 7 thước trở xuống nhằm kiểm soát an ninh ven bờ.
Chính sách thuế khóa Thuế thuyền chài phân biệt theo loại lưới, nghề câu (phá xanh, câu trung, lưới giầm, lưới vó, câu trắng... nộp tiền/sản vật). Thuế ruộng muối (6–10 phương hoặc 3–4 tiền rưỡi/ruộng); năm 1837 cho các tỉnh chiết nộp tiền; năm 1867 thành lập Ty đánh thuế muối tại Bình Định và Bình Thuận; quy định ngạch thuế và thu mua bắt buộc nước mắm, mắm cá nhâm, mắm nhum, mắm mòi.

2. Hoạt động khai thác, chế biến và thương mại thủy hải sản

  • Khai thác thủy hải sản:
    • Ngư trường: Bao gồm vùng lộng ven bờ, sông ngòi, đầm phá, các hải đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa, Trường Sa. Đội Hoàng Sa (70 suất người xã An Vĩnh) xuất phát hàng năm vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch, đi 5 chiếc thuyền câu trong 3 ngày 3 đêm ra đảo, đến tháng 8 âm lịch quay về cửa Eo (Thuận An) nộp sản vật tại thành Phú Xuân.
    • Đối tượng đánh bắt: Hải sản biển gồm cá man lê, cá sính đình, cá man, đuôi cá nhám, vây cá mập, đồi mồi, hải ba, hải sâm (đồn đột), ốc tai tượng (ốc tai voi), ốc xà cừ, ốc hương, cua đá Hóa Khê, tôm hùm, mực. Thủy sản nước ngọt và nước lợ gồm cá chép, cá chình, cá lóc, cá trê, cá hanh, cá trôi, rươi.
    • Thời gian đánh bắt: Đánh bắt biển xa tập trung vào mùa xuân – hè (từ tháng 2 đến tháng 8, đón gió nồm); đánh bắt sông đầm tập trung vào mùa thu nước lũ khi cá tôm sinh sôi.
Bảng: Giá trị sản vật ngư nghiệp do triều Nguyễn thu mua tại các địa phương (Nguồn: Khóa luận trích từ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ)
Năm Địa phương Tên sản vật Mức giá triều đình thu mua
1830 Bình Định Cá man lê (hạng trung) 7 tiền 20 đồng / con
1830 Phú Yên Cá man lê (hạng nhất) 1 quan / con
1832 Quảng Ngãi Đuôi cá nhám đen (hạng lớn) 5 tiền / chiếc
1843 Bình Định Cá sính đình 1 quan / 100 cân
1848 Bình Thuận Vây cá (vi cá mập) 5 tiền / cân
1848 Khánh Hòa Vây cá (vi cá mập) 5 tiền 9 đồng / cân
1851 Phú Yên Vây cá (vi cá mập) 5 tiền 24 đồng / cân
  • Chế biến hải sản: Cá mắm ủ vại phơi nắng 2–3 tháng; làm mắm nhum tại Quảng Ngãi; mắm cá nhâm, mắm mòi, mắm cá thu tại Bình Thuận; cá khô, mực khô, tôm khô phơi nắng; khai thác mai đồi mồi làm dược liệu trị kinh giản, ung nhọt và khảm xà cừ lên đồ gỗ trang trí (hòm mũ, khay vuông, chuôi kiếm).
  • Trao đổi, mua bán: Dưới thời chúa Nguyễn, hải sản xuất khẩu qua cảng thị Hội An chiếm tỷ trọng 48% tổng lượng hàng hóa lâm thổ hải sản xuất cảng (theo thống kê của Đỗ Bang). Sang thế kỷ XIX, triều Nguyễn hạn chế tư nhân buôn bán viễn dương, nhưng nhà nước trực tiếp sử dụng sản vật biển (muối, yến sào, hải sâm) để trao đổi quân trang, vũ khí, hàng dạ từ nước ngoài.

3. Các nghề thủ công hỗ trợ kinh tế ngư nghiệp

  • Nghề làm nước mắm: Phát triển mạnh tại Phan Thiết, Nam Ô, hình thành các tổ chức sản xuất quy mô từ hộ gia đình đến "hộ nước mắm" 50 người có hộ trưởng quản lý việc nộp thuế. Quy trình ủ chượp cá tươi nguyên con với muối theo tỷ lệ, gài vỉ nan nén đá, phơi nắng từ 3 tháng trở lên để hứng nước mắm nhỉ.
  • Nghề làm muối: Thế kỷ XVIII phổ biến kỹ thuật đun nấu nước biển bằng củi. Đến đầu thế kỷ XIX, chuyển biến mang tính bước ngoặt sang phương pháp phơi cát dùng nhiệt mặt trời: cày xới đất mịn, phơi nắng, gom ủ vào "giát", tưới nước mặn để lọc nước khắt chảy vào "nhàng", sau đó đưa vào ô kết tinh phơi thành hạt muối, giúp nâng cao sản lượng vượt bậc.
  • Nghề làm ngư cụ: Đan lưới thủ công bằng sợi gai, sợi bông, tơ tằm, xơ dừa, vỏ cây rừng. Chế tác đa dạng các loại lưới phù hợp với từng vùng nước: lưới rùng (gồm rùng xăm, rùng kéo đánh gần bờ; rùng gõ đánh ngoài khơi), lưới rê (kéo rê đón luồng cá khơi xa), lưới vây, lưới quét, mành, vó...

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khóa luận hệ thống hóa các chính sách quản lý biển của hai thực thể chính trị chúa Nguyễn và triều Nguyễn tại Nam Trung Bộ: từ tổ chức lực lượng vũ trang chuyên trách (đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải, đội tuần hải, quân thứ tấn thủ), cơ chế cứu nạn an dân, đến hệ thống thuế khóa (thuế thuyền chài, thuế ruộng muối, ngạch cống nộp mắm và sản vật quý).
  2. Tái hiện chi tiết bức tranh kinh tế ngư nghiệp Nam Trung Bộ thế kỷ XVI – XIX với đầy đủ các phân khúc: ngư trường, đối tượng khai thác, tính mùa vụ, kỹ thuật chế biến thủ công truyền thống và mạng lưới thương mại nội địa – xuất khẩu qua thương cảng Hội An.
  3. Làm rõ bước tiến kỹ thuật trong các nghề bổ trợ, đặc biệt là kỹ nghệ sản xuất muối phơi cát đầu thế kỷ XIX và sự hoàn thiện của các dòng ngư cụ (lưới rê, lưới rùng).

Giải pháp và kiến nghị

  • Rút ra bài học lịch sử về việc kết hợp giữa khai thác kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo: mô hình "dân binh" (ngư dân kiêm lính tuần tiễu) dưới thời Nguyễn là bài học thực tiễn giá trị cho công tác quản lý biển hiện đại.
  • Đề xuất tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường biển, phát huy giá trị các làng nghề truyền thống (nước mắm, làm muối, chế tác ngư cụ) trong phát triển kinh tế địa phương.

Đóng góp của khóa luận

  • Là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tập trung chuyên biệt vào kinh tế ngư nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trong khung niên đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (các nghiên cứu trước như của Nguyễn Quang Trung Tiến tập trung vào nửa đầu thế kỷ XX, hoặc của Nguyễn Duy Thiệu chỉ đi sâu vào khía cạnh văn hóa – xã hội).
  • Khai thác, tập hợp và đối chiếu hệ thống tư liệu địa chí, chính sử và Châu bản triều Nguyễn thành một tài liệu lịch sử kinh tế có tính hệ thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu lưu trữ bị phân tán và thất lạc, khóa luận chưa thể phục dựng hoạt động ngư nghiệp Nam Trung Bộ dưới thời phong trào Tây Sơn (1771–1802). Bên cạnh đó, các số liệu định lượng về tổng sản lượng đánh bắt toàn vùng qua từng năm chưa thể thống kê đầy đủ do đặc thù hạn chế của sử liệu trung đại.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Bổ sung khai thác các nguồn tư liệu địa phương (gia phả các dòng họ vạn chài, văn cúng tế thần cá Ông, hương ước làng biển) và mở rộng so sánh hoạt động ngư nghiệp Nam Trung Bộ với Bắc Bộ và Nam Bộ trong cùng giai đoạn lịch sử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Văn hóa học và Địa chí học Nam Trung Bộ.
  • Phần nội dung giá trị nhất:
    • Mục chính sách quản lý biển và chế độ thuế khóa thuyền chài, thuế muối dưới triều Nguyễn (trích xuất tư liệu từ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ và Đại Nam Thực Lục).
    • Khảo cứu về tổ chức hoạt động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải gắn liền với hoạt động khai thác hải sản và thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu trên phạm vi không gian và thời gian cụ thể nào? Khóa luận nghiên cứu trên không gian 8 tỉnh, thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ ngày nay (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) cùng các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, trong khung thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, loại trừ thời Tây Sơn do thiếu tư liệu).

2. Đội Hoàng Sa dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn có cơ cấu và lịch trình hoạt động ra sao? Đội Hoàng Sa gồm 70 suất lấy từ dân đinh xã An Vĩnh (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi). Hằng năm vào tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch, đội nhận lệnh mang theo 6 tháng lương thực, đi trên 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra quần đảo Hoàng Sa trong 3 ngày 3 đêm; thực hiện nhiệm vụ canh giữ, đo đạc hải trình, thu lượm hóa vật tàu đắm và đánh bắt hải sản, chim biển; đến tháng 8 âm lịch quay về cửa Eo (Thuận An) nộp sản vật lên thành Phú Xuân.

3. Triều Nguyễn có chính sách cụ thể nào trong công tác cứu hộ, cứu nạn ngư dân trên biển? Năm 1820, vua Minh Mạng quy định mỗi sở cửa biển dự trữ sẵn 100 quan tiền và 100 phương gạo để cứu trợ tàu thuyền bị nạn. Năm 1825, triều đình định lệ hỗ trợ cụ thể: người chết đuối được cấp 3 quan tiền công để chôn cất, người sống sót được cấp 3 tiền và 10 bát gạo.

4. Kỹ thuật sản xuất muối tại Nam Trung Bộ có bước chuyển biến kỹ thuật quan trọng nào vào đầu thế kỷ XIX? Trước thế kỷ XIX, cư dân chủ yếu nấu muối bằng lò đun củi cho năng suất thấp. Đầu thế kỷ XIX, ngư dân chuyển sang phương pháp phơi cát bằng ánh sáng mặt trời: cày xới đất cát mịn trên mặt bằng, phơi khô, gom vào hố "giát" rồi đổ nước biển để lọc lấy "nước khắt" chảy vào "nhàng", sau đó múc ra ô kết tinh phơi lấy muối hạt, tạo ra năng suất và sản lượng lớn.

5. Vì sao triều Nguyễn lại ban hành quy định giới hạn kích thước thuyền đánh cá của dân gian? Nhằm mục đích kiểm soát an ninh biển, ngăn chặn buôn lậu và phòng ngừa giặc cướp biển, năm 1807 triều đình quy định thuyền đánh cá chỉ được dài từ 9 thước trở xuống, đến năm 1815 hạ xuống còn 7 thước trở xuống. Quy định này bảo đảm kiểm soát vùng lộng nhưng cũng hạn chế khả năng vươn khơi xa của thuyền cá dân gian.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI – XIX" của tác giả Nguyễn Thị Thúy là một công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế – xã hội được thực hiện nghiêm túc, khai thác chuẩn xác nguồn tư liệu thư tịch cổ của Quốc sử quán triều Nguyễn. Đề tài đã phục dựng tương đối hoàn chỉnh diện mạo ngành ngư nghiệp Nam Trung Bộ trong bốn thế kỷ, từ điều kiện sinh thái, kỹ thuật khai thác, hệ thống làng nghề đến chính sách quản lý của nhà nước phong kiến. Qua đó, công trình khẳng định vai trò trọng yếu của kinh tế biển và vị trí tiên phong của ngư dân miền Trung trong lịch sử khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo của dân tộc.