CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ VÀ HOẠT ĐỘNG NGƯ NGHIỆP TRƯỚC THẾ KỶ XVI 1. Tổng quan vùng Nam Trung Bộ 1. Vị trí địa lý Vùng Nam Trung Bộ là một dải đất hẹp ngang, hình cong, hướng ra biển, trải dài gần 10 vĩ độ, từ 10035’ Bắc đến 16012’ Bắc và 107012’ Đông đến 1090 20’Đông. Trên dải đất hình chữ S đây là phần đất “nhô ra nhiều đầu nối”, “vươn ra biển”, tạo tiền đề cho vùng đất này tiếp thu các nền văn hóa, văn minh từ các nước theo đường biển, cũng là nơi có điều kiện giao thương và buôn bán với các nước.
Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 6 tỉnh thành theo thứ tự Bắc – Nam: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, có diện tích tự nhiên gần 44. Các tỉnh Nam Trung Bộ tất cả đều tiếp giáp với biển Đông, với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thềm lục địa và biển sâu. Vị trí, ranh giới, hình thể của các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí như sau: Tỉnh Quảng Nam: Phía Đông có biển bao vòng, phía Tây có núi che chở, phía Nam liền tỉnh Quảng Ngãi, rừng Trì Bình làm giới hạn cõi bờ, phía Bắc hướng về kinh đô, cửa Hải Vân chẹn chỗ xung yếu [29, tr. Tỉnh Quảng Ngãi: Phía Đông tỉnh có đảo Hoàng Sa, liền cát và biển làm trì, phía Tây Nam miền Sơn Nam có lũy dài vững vàng, phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn [29, tr.
Tỉnh Bình Định: Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp các sơn động, phía Bắc có đèo Bến Đá ngăn cản, phía Nam có đèo Cù Mông dốc hiểm [30, tr. Tỉnh Phú Yên: Phía Đông giáp biển, phía Tây dựa núi, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, có đèo Cù Mông hiểm trở, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, có đèo Đại Lĩnh cao dốc [30, tr. Tỉnh Ninh Thuận:Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có hình thể giống như một hình bình hành, hai góc nhọn ở về phía Tây Bắc và Đông Nam. 5 Luan van Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông.
Tỉnh Bình Thuận: Bình Thuận là tỉnh có dãy đất bắt đầu chuyển hướng từ Nam sang Tây của phần còn lại của Việt Nam trên bản đồ hình chữ S, Phía Bắc của tỉnh Bình Thuận giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía Đông bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu, ở phía Đông và nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192 km [44]. Hầu hết các tỉnh Nam Trung Bộ đều giáp biển, ở phía Đông là đồng bằng nhỏ hẹp, phía Tây là miền núi, trung du. Mặt khác đây cũng là đặc điểm cho thấy sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên, khí hậu, văn hóa để các tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế biển và kinh tế đất liền [24, tr. Điều kiện tự nhiên - Địa hình và đất đai Diện tích đất đồi chiếm ¾ tổng diện tích tự nhiên ở đây, còn đồng bằng Duyên hải chỉ chiếm ¼ tổng diện tích tự nhiên của vùng.
Do vị trí địa lý, cũng như điều kiện tự nhiên đã tạo nên kết cấu đất ở đây chủ yếu là đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, vùng núi phía Tây thì có đất feralit vàng. Nhìn chung đất ở Duyên hải Nam Trung Bộ có độ phì nhiêu thấp. Đất cấu tạo tại chỗ do được hình thành trên đất mẹ nghèo chất dinh dưỡng, lại có địa hình dốc, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt nên dễ bị rửa trôi. Các loại đất được hình thành từ nguồn gốc khác nhau: Đất dốc tự và phù sa phân bố ven sông hoặc các bãi đá chân núi là loại đất hình thành do bồi tụ hàng năm của các con sông, suối hoặc do ảnh hưởng của lắng đọng, dốc tụ, đất có thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ, tầng đất dày, tơi xốp.
Đây chính là diện tích đất nông nghiệp quan trọng. Đất feralit vàng nhạt trên vùng núi trung bình, đất feralit trên đá vôi là điều kiện phát triển cây công nghiệp và chăn nuôi, hình thành trên nhiều loại đá mẹ như phiến sét, granit, đá vôi, sa thạch. Đất tốt, thành phần cơ giới từ nặng đến trung bình, tầng đất trung bình và nông [21, tr. Duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm tự nhiên rất đặc sắc: Một dải lãnh thổ hẹp, mà phía Tây là sườn Đông của Trường Sơn Nam ôm lấy Tây Nguyên rộng lớn, phía Đông là biển Đông.
Phía Bắc có dãy núi Bạch Mã là ranh giới tự nhiên với Bắc Trung Bộ, còn phía Nam là Đông Nam Bộ. Các nhánh núi ăn ra biển đã chia nhỏ 6 Luan van phần duyên hải thành các đồng bằng nhỏ hẹp. Chính vì sự hình thành địa hình như vậy nên đồi núi, đồng bằng và bờ biển ở đây luôn xâm nhập lẫn nhau, tạo nên nhiều vũng, vịnh, đầm phá, sông suối, ao hồ với mật độ tương đối dày đặc. Về địa hình, bề mặt địa hình của các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ bị chia cắt nhiều bởi những sườn núi kéo dài từ dãy Trường Sơn ra đến biển, tạo nên những thung lũng rộng hẹp khác nhau.
Địa giới từng tỉnh trong khu vực được xác định theo lưu vực sông, đèo và núi. Mỗi một lưu vực gồm đồng bằng, biển và bờ biển tương ứng. Tất cả địa hình đều được bao bọc bởi các dãy, núi song song xuất phát từ dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây chạy thấp dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, ôm lấy các tỉnh. Đồng bằng các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm giống nhau về hình thái, được hình thành không tách rời với một bên là dãy Trường Sơn và bên kia là biển Đông.
Các đồng bằng đó lại chia theo từng vệt, tiếp đồi núi là vùng gò đồi, thềm phù sa cổ (trung du) rồi đến đồng bằng. Đồng bằng được bồi đắp bằng phù sa của hệ thống sông suối và bị chắn bởi dãy cát, cồn cát ven biển [21, tr. Địa hình của vùng được mô tả như sau: “Thực ra người ta có thể thấy một sự phân biệt rõ rệt: bậc thứ nhất đổ từ bờ ra đến độ sau 40 – 80m có địa hình bị chia cắt mạnh mẽ, bậc thứ hai nối tiếp từ đó xuống độ sâu khoảng 150m có bề mặt gồ ghề, bậc thứ ba chạy thẳng ra thềm lục địa đến độ sâu 800 - 1000m”. Địa hình bị cắt xẻ mạnh bởi những dãy núi đâm ngang ra tận đồng bằng tạo thành những xứ đồng bằng nằm xen kẻ đồi núi nhỏ hẹp, bề mặt đồng bằng có độ dốc, độ cao tuyệt đối từ 15 – 10m trở xuống.
Các vùng đồng bằng được hình thành do địa hình và sự bồi đắp bởi các con sông [21, tr. - Sông ngòi và khí hậu Ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc, thường ngắn nhưng độ dốc tương đối cao, lớn dần về phía hạ lưu và đổ trực tiếp ra biển. Nước sông đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, song do phân bố không đều về không gian và thời gian nên có nơi có mùa thiếu nước, có nơi có mùa lại thừa nước. Hơn nữa do sông có đặc điểm là ngắn dốc, lưu lượng không điều hòa nên thường gây ra lũ lụt trong mùa mưa và khô hạn trong mùa nắng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất.
Nhưng cũng mang lại lượng phù sa lớn và màu mỡ cho các vùng đồng bằng thuận lợi phát triển kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp. Do đặc điểm 7 Luan van sông ngòi như vậy nên đòi hỏi công tác đê điều, thủy lợi phải được chú trọng để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cũng như ngăn chặn lũ lụt [21, tr. Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trên nền khí hậu chung của cả nước, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng chủ yếu như nhiệt độ cao, khí hậu nóng ẩm, cường độ ánh sáng mạnh, lượng mưa nhiều và tập trung vào một số tháng trong năm, do vậy hàng năm thường xuyên xảy ra hạn hán, mưa bão, gây thiệt hại lớn về người và của. Đồng thời do ảnh hưởng của địa hình và sông ngòi thì khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng mang đặc tính riêng- một vùng đất được mô tả là nơi “Bốn mùa ấm áp, cây cỏ mùa đông tươi tốt, bốn mùa đều ăn rau sống”.
Đó là khí hậu thuộc vùng Đông Trường Sơn, mang sắc thái của khí hậu Á xích đạo nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, hàng năm có hai mùa mưa, nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau, những tháng còn lại là mùa nắng. Khí hậu này cũng được sách Ô châu cận lục viết như sau: “Thời tiết mùa xuân, mùa hạ thì nắng, mùa thu, mùa đông thì mưa”. Do lượng mưa lớn trung bình khoảng 2000-2500 mm trên một năm, lại tập trung trong khoảng thời gian ngắn, nên vào mùa mưa các con sông, suối trở nên ngập tràn và gây ra lũ lụt lớn, sạt lở ở nhiều nơi. Trong khi đó vào mùa nắng lại khô hạn thiếu nước sinh hoạt, tưới tiêu [21, tr.
Sự khắc nghiệt của thời tiết còn thể hiện qua chỗ hằng năm khu vực Nam Trung Bộ còn chịu ảnh hưởng từ các cơn bão trong tháng 9 đến tháng 11, gây thiệt hại nặng nề, mặc dù nằm trong khu vực nhiệt đới, là nơi gặp gỡ các khối không khí lục địa và nguồn gốc đại dương xích đạo, chịu ảnh hưởng khá sâu của chế độ gió mùa châu Á, chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và Đông Nam, nhưng sự chia cắt mạnh của địa hình núi kéo dài ra biển của dãy Trường Sơn hình thành nên bức tường chắn đèo Hải Vân, nên hàng năm Duyên hải Nam Trung Bộ hầu như chịu tác động của gió mùa Đông Nam vì khí hậu ở khu vực này quanh năm luôn nóng ẩm [21, tr. Với sông ngòi thì ngắn dốc, khí hậu lại thay đổi theo mùa khi thổi qua đại dương gặp hướng bờ biển thay đổi, cùng địa hình cao của vùng núi gây mưa lũ.