Luận văn tốt nghiệp về ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI đến XIX

Chuyên đề ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI đến XIX, tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong chuyên ngành

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4.1. Mục đích nghiên cứu

0.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5.1. Nguồn tư liệu

0.5.2. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của khóa luận

0.7. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ VÀ HOẠT ĐỘNG NGƯ NGHIỆP TRƯỚC THẾ KỶ XVI

1.1. Tổng quan vùng Nam Trung Bộ

1.2. Vị trí địa lý

1.3. Điều kiện tự nhiên

1.3.1. Địa hình và đất đai

1.3.2. Sông ngòi và khí hậu

1.4. Vùng biển và một số đảo, quần đảo vùng Nam Trung Bộ

1.5. Khái quát lịch sử hình thành vùng đất Nam Trung Bộ

1.6. Ngư nghiệp Nam Trung Bộ trước thế kỷ XVI

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NGƯ NGHIỆP VÙNG BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ TỪ THẾ KỶ XVI – XIX

2.1. Chính sách của các chính quyền phong kiến đối với kinh tế ngư nghiệp trong các thế kỷ XVI – XIX

2.2. Xây dựng các lực lượng tuần tiễu, bảo vệ ngư dân và biển đảo

2.3. Hoạt động cứu hộ, cứu nạn đối với ngư dân

2.4. Quản lý hoạt động khai thác hải sản của ngư dân

2.5. Chính sách thuế khóa

2.5.1. Thuế thuyền đánh cá

2.5.2. Thuế đầm, vụng, hồ, ao

2.5.3. Thuế mắm, muối, lệ tiến sản vật

2.6. Hoạt động ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI – XIX

2.6.1. Khai thác thủy, hải sản

2.6.2. Chế biến và mua bán các sản phẩm ngư nghiệp

2.6.2.1. Chế biến sản phẩm ngư nghiệp
2.6.2.2. Trao đổi, mua bán các sản phẩm ngư nghiệp

2.6.3. Các nghề hỗ trợ kinh tế ngư nghiệp

2.6.3.1. Nghề làm nước mắm
2.6.3.2. Nghề làm muối
2.6.3.3. Nghề làm ngư cụ
2.6.3.4. Nghề đóng thuyền, ghe

2.7. Tác động của ngư nghiệp đối với kinh tế và văn hóa Nam Trung Bộ

2.7.1. Tác động về kinh tế

2.7.2. Tác động về văn hóa – xã hội

2.8. Đánh giá chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngư nghiệp Nam Trung Bộ

Ngư nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đặc biệt là ở Nam Trung Bộ. Từ thế kỷ XVI đến XIX, ngư nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm mà còn đóng vai trò trong việc bảo vệ tài nguyên biển. Các ngư dân đã phát triển nhiều kỹ thuật đánh bắt và chế biến sản phẩm thủy sản. Họ sử dụng các loại ngư cụ truyền thống, từ lưới đến thuyền, để khai thác nguồn lợi từ biển. Lịch sử ngư nghiệp ở đây phản ánh sự gắn bó giữa con người và biển, thể hiện qua các hoạt động văn hóa và tín ngưỡng liên quan đến nghề cá. Chính sách của các triều đại phong kiến cũng đã có những ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngư nghiệp, từ việc quản lý đến khuyến khích ngư dân khai thác tài nguyên biển.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và vị trí địa lý

Vùng Nam Trung Bộ có vị trí địa lý đặc biệt, với bờ biển dài và nhiều đảo, quần đảo. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển. Địa hình đa dạng, từ núi đến đồng bằng, cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa, đã hình thành nên một hệ sinh thái phong phú. Các ngư dân ở đây đã tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên biển, từ cá đến hải sản khác. Tài nguyên biển phong phú đã góp phần quan trọng vào đời sống kinh tế của cư dân ven biển. Hơn nữa, sự đa dạng sinh học của vùng biển cũng tạo ra nhiều cơ hội cho việc phát triển các nghề phụ trợ như làm nước mắm, muối và ngư cụ.

II. Tình hình ngư nghiệp từ thế kỷ XVI đến XIX

Từ thế kỷ XVI, ngư nghiệp ở Nam Trung Bộ đã có những bước phát triển đáng kể. Các chính quyền phong kiến đã nhận thức được tầm quan trọng của ngành kinh tế này và đã có những chính sách hỗ trợ. Việc xây dựng lực lượng tuần tiễu để bảo vệ ngư dân và tài nguyên biển là một trong những chính sách quan trọng. Chính sách ngư nghiệp không chỉ tập trung vào việc khai thác mà còn chú trọng đến việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Các hoạt động cứu hộ, cứu nạn cũng được thực hiện để đảm bảo an toàn cho ngư dân trong quá trình đánh bắt. Điều này cho thấy sự quan tâm của nhà nước đối với đời sống của ngư dân và sự phát triển bền vững của ngành thủy sản.

2.1. Chính sách và quản lý ngư nghiệp

Chính quyền phong kiến đã áp dụng nhiều chính sách để quản lý ngư nghiệp. Các loại thuế như thuế thuyền đánh cá, thuế mắm, muối đã được áp dụng để điều tiết hoạt động khai thác. Những chính sách này không chỉ tạo nguồn thu cho nhà nước mà còn khuyến khích ngư dân phát triển nghề cá. Chính sách ngư nghiệp cũng bao gồm việc bảo vệ quyền lợi của ngư dân, đảm bảo họ có thể yên tâm bám biển. Sự phát triển của ngành thủy sản trong giai đoạn này không chỉ góp phần vào kinh tế địa phương mà còn có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc.

III. Tác động của ngư nghiệp đến kinh tế và văn hóa

Ngư nghiệp không chỉ có tác động lớn đến kinh tế mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của cư dân Nam Trung Bộ. Hoạt động đánh bắt cá đã hình thành nên nhiều làng nghề truyền thống, từ làm nước mắm đến chế biến hải sản. Những sản phẩm này không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Hơn nữa, ngư nghiệp còn gắn liền với các phong tục tập quán, tín ngưỡng của người dân. Các lễ hội liên quan đến biển, như lễ cầu ngư, thể hiện sự tôn kính đối với biển cả và nguồn tài nguyên mà nó mang lại. Điều này cho thấy sự kết nối chặt chẽ giữa ngư nghiệp và đời sống văn hóa của người dân.

3.1. Tác động kinh tế

Ngư nghiệp đã đóng góp đáng kể vào kinh tế của Nam Trung Bộ. Sự phát triển của ngành này không chỉ tạo ra việc làm cho hàng triệu ngư dân mà còn thúc đẩy các ngành nghề phụ trợ khác. Các sản phẩm từ biển như cá, tôm, mực không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có tiềm năng xuất khẩu lớn. Điều này đã giúp cải thiện đời sống của người dân ven biển, đồng thời tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Kinh tế biển trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế của khu vực.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ VÀ HOẠT ĐỘNG NGƯ NGHIỆP TRƯỚC THẾ KỶ XVI 1. Tổng quan vùng Nam Trung Bộ 1. Vị trí địa lý Vùng Nam Trung Bộ là một dải đất hẹp ngang, hình cong, hướng ra biển, trải dài gần 10 vĩ độ, từ 10035’ Bắc đến 16012’ Bắc và 107012’ Đông đến 1090 20’Đông. Trên dải đất hình chữ S đây là phần đất “nhô ra nhiều đầu nối”, “vươn ra biển”, tạo tiền đề cho vùng đất này tiếp thu các nền văn hóa, văn minh từ các nước theo đường biển, cũng là nơi có điều kiện giao thương và buôn bán với các nước.

Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 6 tỉnh thành theo thứ tự Bắc – Nam: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, có diện tích tự nhiên gần 44. Các tỉnh Nam Trung Bộ tất cả đều tiếp giáp với biển Đông, với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thềm lục địa và biển sâu. Vị trí, ranh giới, hình thể của các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ đã được ghi lại trong sách Đại Nam nhất thống chí như sau: Tỉnh Quảng Nam: Phía Đông có biển bao vòng, phía Tây có núi che chở, phía Nam liền tỉnh Quảng Ngãi, rừng Trì Bình làm giới hạn cõi bờ, phía Bắc hướng về kinh đô, cửa Hải Vân chẹn chỗ xung yếu [29, tr. Tỉnh Quảng Ngãi: Phía Đông tỉnh có đảo Hoàng Sa, liền cát và biển làm trì, phía Tây Nam miền Sơn Nam có lũy dài vững vàng, phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn [29, tr.

Tỉnh Bình Định: Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp các sơn động, phía Bắc có đèo Bến Đá ngăn cản, phía Nam có đèo Cù Mông dốc hiểm [30, tr. Tỉnh Phú Yên: Phía Đông giáp biển, phía Tây dựa núi, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, có đèo Cù Mông hiểm trở, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, có đèo Đại Lĩnh cao dốc [30, tr. Tỉnh Ninh Thuận:Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có hình thể giống như một hình bình hành, hai góc nhọn ở về phía Tây Bắc và Đông Nam. 5 Luan van Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông.

Tỉnh Bình Thuận: Bình Thuận là tỉnh có dãy đất bắt đầu chuyển hướng từ Nam sang Tây của phần còn lại của Việt Nam trên bản đồ hình chữ S, Phía Bắc của tỉnh Bình Thuận giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía Đông bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu, ở phía Đông và nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192 km [44]. Hầu hết các tỉnh Nam Trung Bộ đều giáp biển, ở phía Đông là đồng bằng nhỏ hẹp, phía Tây là miền núi, trung du. Mặt khác đây cũng là đặc điểm cho thấy sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên, khí hậu, văn hóa để các tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế biển và kinh tế đất liền [24, tr. Điều kiện tự nhiên - Địa hình và đất đai Diện tích đất đồi chiếm ¾ tổng diện tích tự nhiên ở đây, còn đồng bằng Duyên hải chỉ chiếm ¼ tổng diện tích tự nhiên của vùng.

Do vị trí địa lý, cũng như điều kiện tự nhiên đã tạo nên kết cấu đất ở đây chủ yếu là đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, vùng núi phía Tây thì có đất feralit vàng. Nhìn chung đất ở Duyên hải Nam Trung Bộ có độ phì nhiêu thấp. Đất cấu tạo tại chỗ do được hình thành trên đất mẹ nghèo chất dinh dưỡng, lại có địa hình dốc, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt nên dễ bị rửa trôi. Các loại đất được hình thành từ nguồn gốc khác nhau: Đất dốc tự và phù sa phân bố ven sông hoặc các bãi đá chân núi là loại đất hình thành do bồi tụ hàng năm của các con sông, suối hoặc do ảnh hưởng của lắng đọng, dốc tụ, đất có thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ, tầng đất dày, tơi xốp.

Đây chính là diện tích đất nông nghiệp quan trọng. Đất feralit vàng nhạt trên vùng núi trung bình, đất feralit trên đá vôi là điều kiện phát triển cây công nghiệp và chăn nuôi, hình thành trên nhiều loại đá mẹ như phiến sét, granit, đá vôi, sa thạch. Đất tốt, thành phần cơ giới từ nặng đến trung bình, tầng đất trung bình và nông [21, tr. Duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm tự nhiên rất đặc sắc: Một dải lãnh thổ hẹp, mà phía Tây là sườn Đông của Trường Sơn Nam ôm lấy Tây Nguyên rộng lớn, phía Đông là biển Đông.

Phía Bắc có dãy núi Bạch Mã là ranh giới tự nhiên với Bắc Trung Bộ, còn phía Nam là Đông Nam Bộ. Các nhánh núi ăn ra biển đã chia nhỏ 6 Luan van phần duyên hải thành các đồng bằng nhỏ hẹp. Chính vì sự hình thành địa hình như vậy nên đồi núi, đồng bằng và bờ biển ở đây luôn xâm nhập lẫn nhau, tạo nên nhiều vũng, vịnh, đầm phá, sông suối, ao hồ với mật độ tương đối dày đặc. Về địa hình, bề mặt địa hình của các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ bị chia cắt nhiều bởi những sườn núi kéo dài từ dãy Trường Sơn ra đến biển, tạo nên những thung lũng rộng hẹp khác nhau.

Địa giới từng tỉnh trong khu vực được xác định theo lưu vực sông, đèo và núi. Mỗi một lưu vực gồm đồng bằng, biển và bờ biển tương ứng. Tất cả địa hình đều được bao bọc bởi các dãy, núi song song xuất phát từ dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây chạy thấp dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, ôm lấy các tỉnh. Đồng bằng các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm giống nhau về hình thái, được hình thành không tách rời với một bên là dãy Trường Sơn và bên kia là biển Đông.

Các đồng bằng đó lại chia theo từng vệt, tiếp đồi núi là vùng gò đồi, thềm phù sa cổ (trung du) rồi đến đồng bằng. Đồng bằng được bồi đắp bằng phù sa của hệ thống sông suối và bị chắn bởi dãy cát, cồn cát ven biển [21, tr. Địa hình của vùng được mô tả như sau: “Thực ra người ta có thể thấy một sự phân biệt rõ rệt: bậc thứ nhất đổ từ bờ ra đến độ sau 40 – 80m có địa hình bị chia cắt mạnh mẽ, bậc thứ hai nối tiếp từ đó xuống độ sâu khoảng 150m có bề mặt gồ ghề, bậc thứ ba chạy thẳng ra thềm lục địa đến độ sâu 800 - 1000m”. Địa hình bị cắt xẻ mạnh bởi những dãy núi đâm ngang ra tận đồng bằng tạo thành những xứ đồng bằng nằm xen kẻ đồi núi nhỏ hẹp, bề mặt đồng bằng có độ dốc, độ cao tuyệt đối từ 15 – 10m trở xuống.

Các vùng đồng bằng được hình thành do địa hình và sự bồi đắp bởi các con sông [21, tr. - Sông ngòi và khí hậu Ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc, thường ngắn nhưng độ dốc tương đối cao, lớn dần về phía hạ lưu và đổ trực tiếp ra biển. Nước sông đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, song do phân bố không đều về không gian và thời gian nên có nơi có mùa thiếu nước, có nơi có mùa lại thừa nước. Hơn nữa do sông có đặc điểm là ngắn dốc, lưu lượng không điều hòa nên thường gây ra lũ lụt trong mùa mưa và khô hạn trong mùa nắng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất.

Nhưng cũng mang lại lượng phù sa lớn và màu mỡ cho các vùng đồng bằng thuận lợi phát triển kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp. Do đặc điểm 7 Luan van sông ngòi như vậy nên đòi hỏi công tác đê điều, thủy lợi phải được chú trọng để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cũng như ngăn chặn lũ lụt [21, tr. Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trên nền khí hậu chung của cả nước, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng chủ yếu như nhiệt độ cao, khí hậu nóng ẩm, cường độ ánh sáng mạnh, lượng mưa nhiều và tập trung vào một số tháng trong năm, do vậy hàng năm thường xuyên xảy ra hạn hán, mưa bão, gây thiệt hại lớn về người và của. Đồng thời do ảnh hưởng của địa hình và sông ngòi thì khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng mang đặc tính riêng- một vùng đất được mô tả là nơi “Bốn mùa ấm áp, cây cỏ mùa đông tươi tốt, bốn mùa đều ăn rau sống”.

Đó là khí hậu thuộc vùng Đông Trường Sơn, mang sắc thái của khí hậu Á xích đạo nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, hàng năm có hai mùa mưa, nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau, những tháng còn lại là mùa nắng. Khí hậu này cũng được sách Ô châu cận lục viết như sau: “Thời tiết mùa xuân, mùa hạ thì nắng, mùa thu, mùa đông thì mưa”. Do lượng mưa lớn trung bình khoảng 2000-2500 mm trên một năm, lại tập trung trong khoảng thời gian ngắn, nên vào mùa mưa các con sông, suối trở nên ngập tràn và gây ra lũ lụt lớn, sạt lở ở nhiều nơi. Trong khi đó vào mùa nắng lại khô hạn thiếu nước sinh hoạt, tưới tiêu [21, tr.

Sự khắc nghiệt của thời tiết còn thể hiện qua chỗ hằng năm khu vực Nam Trung Bộ còn chịu ảnh hưởng từ các cơn bão trong tháng 9 đến tháng 11, gây thiệt hại nặng nề, mặc dù nằm trong khu vực nhiệt đới, là nơi gặp gỡ các khối không khí lục địa và nguồn gốc đại dương xích đạo, chịu ảnh hưởng khá sâu của chế độ gió mùa châu Á, chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và Đông Nam, nhưng sự chia cắt mạnh của địa hình núi kéo dài ra biển của dãy Trường Sơn hình thành nên bức tường chắn đèo Hải Vân, nên hàng năm Duyên hải Nam Trung Bộ hầu như chịu tác động của gió mùa Đông Nam vì khí hậu ở khu vực này quanh năm luôn nóng ẩm [21, tr. Với sông ngòi thì ngắn dốc, khí hậu lại thay đổi theo mùa khi thổi qua đại dương gặp hướng bờ biển thay đổi, cùng địa hình cao của vùng núi gây mưa lũ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về ngư nghiệp Nam Trung Bộ từ thế kỷ XVI đến XIX" của tác giả Nguyễn Thị Thúy, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Duy Phương tại Đại học Đà Nẵng, khám phá sự phát triển của ngư nghiệp tại khu vực Nam Trung Bộ trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến XIX. Bài luận văn không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử và văn hóa ngư nghiệp mà còn phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến ngành nghề này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức ngư nghiệp đã hình thành và phát triển, cũng như vai trò của nó trong đời sống cộng đồng địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ, nơi phân tích hiệu quả của các mô hình nuôi trồng thủy sản, hay Nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác thủy sản tại làng chài xã Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, cung cấp cái nhìn về quản lý và phát triển bền vững trong ngành thủy sản. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Các yếu tố quyết định thành công của mô hình nuôi cá lóc trong vèo màu lũ năm 2004, một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong nuôi trồng thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam.