MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài hơn 3.260 km, dọc theo bờ biển có nhiều địa điểm tự nhiên thuận lợi cho sự hình thành hệ thống cảng biển từ Bắc vào Nam. Do vị trí ở rất gần đường hàng hải quốc tế, lại ở trong khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao và thị trường vận tải biển sôi động nên Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mối quan hệ thương mại thế giới và khu vực. Kinh tế vận tải biển là một trong những thế mạnh của Việt Nam, và được coi là đòn bẩy quan trọng trong quá trình hội nhập.
Đến nay, kinh tế vận tải biển đã mang lại cho đất nước những thành tựu đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương. Có thể nói, kinh tế vận tải biển là một trong những phương tiện hữu hiệu thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển, góp phần tích lũy vốn cho nền kinh tế đồng thời giải quyết được các vấn đề mang tính xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Để tận dụng tối đa tiềm năng về vị trí, điều kiện tự nhiên và nâng cao vị thế của ngành hàng hải Việt Nam trên thị trường quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 250/TTg ngày 29/4/1995 thành lập Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị: vận tải biển, bốc xếp, sửa chữa tàu biển, dịch vụ hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải quản lý. Trong suốt quá trình tổ chức, hoạt động của mình, được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và sự hỗ trợ có hiệu quả của các bộ, ban, ngành Trung ương, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đã luôn chú trọng công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển Tổng công ty Hàng hải Việt Nam trong từng giai đoạn, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.
1 Tổng công ty Hàng hải Việt Nam là doanh nghiệp chủ lực của vận tải biển Việt Nam khi đội tàu Vinalines chiếm phần lớn tổng trọng tải vận tải biển quốc gia (tính đến cuối năm 2016, đội tàu Vinalines chiếm 25,63% tổng trọng tải đội tàu biển Việt Nam). Tổng công ty hiện đang quản lý và khai thác một đội tàu biển đa chủng loại, trong đó có những loại tàu hàng rời cỡ lớn đến 73.000 DWT, tàu container 1800 TEU và tàu dầu 50. Tính đến cuối năm 2016, đội tàu của Vinalines bao gồm 86 chiếc với tổng trọng tải 1,935 triệu DWT và sẽ tiếp tục được phát triển trong thời gian tới. Kinh doanh vận tải biển là một trong ba lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty: vận tải biển, cảng biển và dịch vụ hàng hải.
Những năm gần đây, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động đầu tư, kinh doanh, khai thác đội tàu của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam còn nhiều bất cập. Thứ nhất, số lượng các loại tàu già trong đội tàu khá nhiều làm tăng chi phí khai thác, dẫn đến thua lỗ, tàu nằm bờ, tàu bị bắt giữ. Nhiều tàu trong đội tàu hiện tại của Tổng công ty được đầu tư mua lại tốn hàng trăm tỷ đồng khi nó đã già nua, lạc hậu hoặc thậm chí có một số con tàu đóng mới vẫn không hoạt động được như tàu Lash Sông Gianh đã gây lãng phí rất lớn. Kết luận của Thanh tra Chính phủ năm 2012 cho thấy Vinalines đã đi vào đúng "vết xe đổ" của Vinashin khi mua hàng loạt tàu cũ.
Có 17 tàu trên 15 tuổi không đủ điều kiện đăng ký tại Việt Nam, thậm chí tàu Lively Falcon 30 tuổi vẫn được mua và được Bộ Giao thông vận tải cho phép đăng ký treo cờ nước ngoài (Mông Cổ, Panama). Điển hình trong số này có đội tàu của Cty cổ phần vận tải dầu khí Việt Nam (Falcon) mua tuổi bình quân là 26 năm và có tới 7/10 tàu treo cờ nước ngoài (tại thời điểm thanh tra). Việc mua tàu cũ không thể đăng ký tại Việt Nam làm xấu đi hình ảnh đội tàu quốc gia, giảm sức cạnh tranh. Theo Cục đăng kiểm Việt Nam, chỉ trong năm 2011 đã có hơn 40 tàu của Vinalines bị bắt giữ tại Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… như: Hoa Sen, Vinalines Star, Cái Lân 4, Vinalines Glory, Vinalines Global… 2 Thứ hai, đội tàu của Tổng công ty có số lượng lớn được đầu tư vào giai đoạn 2006 – 2009, là giai đoạn phát triển “nóng” của vận tải biển Việt Nam.
Trong vòng 5 năm (2005 – 2010), Vinalines đầu tư mua 73 tàu, đa số các tàu mua là của nước ngoài, đã qua sử dụng, với năng lực vận tải 2.961 DWT, tổng số vốn là 22. 85% vốn mua tàu là vay thương mại, thậm chí dự án mua tàu Sky, Ocean, Global sử dụng 100% vốn vay. Nguồn vốn đầu tư tàu chủ yếu là nguồn vốn vay, giá tàu cao nên chi phí tài chính lớn. Lãi vay đầu tư tàu chiếm tỉ lệ lớn trong các khoản mục chi phí khai thác tàu, tác động trực tiếp đến lợi nhuận khai thác.
Thứ ba, đội tàu Vinalines là đội tàu chủ lực của Việt Nam song cơ cấu đội tàu còn nhiều bất hợp lý, chưa theo kịp xu hướng phát triển của đội tàu thế giới nên hiệu quả kinh doanh khai thác đội tàu chưa cao. Năm 2012, Thanh tra Chính phủ kết luận rằng việc đầu tư tàu của các công ty thuộc Vinalines là bất hợp lý cả về cỡ tàu, loại tàu và tuổi tàu; suất đầu tư cao hơn so với thực tế. Theo chủng loại, tàu hàng khô chiếm tỷ trọng quá lớn trong khi tỷ trọng tàu dầu và tàu container còn thấp, việc tổ chức quản lý khai thác tàu dầu còn nhiều hạn chế. Theo tuổi tàu, những nhóm tàu già chiếm tỷ trọng còn cao, tuổi tàu bình quân của đội tàu Vinalines cao hơn nhiều so với đội tàu thế giới.
Theo cỡ tàu, đội tàu Vinalines chủ yếu là các tàu cỡ nhỏ và trung bình, số lượng tàu cỡ lớn còn hạn chế và hầu hết đều cho thuê định hạn. Thứ tư, việc quản lý, khai thác đội tàu còn manh mún, chưa hiệu quả. Thời điểm cao nhất Vinalines có 149 tàu, thời điểm ít nhất là 86 tàu nhưng được phân bố dàn trải, phân tán và manh mún ở nhiều đơn vị khai thác; trong đó cá biệt có đơn vị chỉ quản lý một vài tàu. Nhiều đơn vị trực thuộc Tổng công ty mua tàu về không trực tiếp khai thác mà cho thuê định hạn, làm lệch hướng phát triển vận tải biển, chưa bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để phát triển thị trường vận tải biển phục vụ nền kinh tế quốc dân.
3 Măc dù được sự quan tâm, chỉ đạo của Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan nhưng hiệu quả kinh doanh vận tải biển, một trong ba lĩnh vực kinh doanh chính của Tổng công ty chưa cao. Hậu quả của những bất cập trên không chỉ làm kết quả đầu tư, kinh doanh, khai thác đội tàu thấp mà ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Vậy, làm thế nào để hợp lý hóa cơ cấu đội tàu Tổng công ty Hàng hải Việt Nam từ việc nghiên cứu những bất hợp lý, những điểm hạn chế trong quá trình đầu tư, kinh doanh khai thác đội tàu; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tương xứng với tiềm năng cũng như nguồn lực được giao? Đó là lí do để tác giả chọn đề tài “Giải pháp hợp lý hóa cơ cấu đội tàu của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam”. Các công trình nghiên cứu liên quan Đội tàu biển là tư liệu sản xuất chủ yếu để tạo ra sản phẩm của vận tải biển.
Nghiên cứu về đội tàu biển Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học, dự án được công bố với quy mô và nội dung khác nhau. Tuy nhiên, những công trình khoa học đề cập tới cơ cấu đội tàu và hợp lý hóa cơ cấu đội tàu rất hạn chế, đặc biệt là các công trình khoa học của nước ngoài. Do đó, tác giả tìm hiểu về một số công trình khoa học trong nước nghiên cứu về đội tàu biển. Trong đó, có thể liệt kê một số công trình như sau: “Xây dựng đội tàu biển quốc gia trước vận hội lớn”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Nguyễn Phú Lễ, Hà Nội (1999).
Đề tài có ý nghĩa thiết thực về thực tiễn, hướng vào nghiên cứu chủ đề vừa cơ bản vừa mang tính thời sự đối với ngành hàng hải Việt Nam vào những năm đất nước có bước phát triển vượt bậc về vận tải và mở cửa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến bài toán đầu tư và huy động tài chính để phát triển nhanh đội tàu. Đề tài đã chỉ ra các tiêu chí kỹ thuật khi đánh giá năng lực của đội tàu vận tải mà không đề cập đến cơ cấu đội tàu theo 4 các tiêu thức khác nhau như loại tàu, cỡ tàu, tuổi tàu… Những giải pháp đề tài đưa ra tập trung vào việc huy động vốn để đầu tư gia tăng tổng trọng tải cho đội tàu chủ lực của quốc gia [20]. “Nghiên cứu các giải pháp tăng năng lực cạnh tranh của ngành hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của tác giả Đinh Ngọc Viện, Hà Nội (2001).
Đề tài đã nghiên cứu tổng quan một số vấn đề chủ yếu về năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển. Từ lý thuyết chung về khả năng cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, tác giả đã đưa ra những đánh giá năng lực cạnh tranh của đội tàu quốc gia, đồng thời đã phân tích đánh giá về vận tải biển Việt Nam và năng lực cạnh tranh vận tải hàng hoá của Việt Nam trong vận tải khu vực châu Á. Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào năng lực cạnh tranh của đội tàu vận tải thông qua các thông số kỹ thuật của đội tàu vận tải, nhấn mạnh yếu tố quyết định là kỹ thuật công nghệ và tổng trọng tải đội tàu. Do vậy, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được đề tài xây dựng là giải pháp tập trung phát triển đội tàu vận tải quốc gia về kỹ thuật công nghệ và tổng trọng tải đội tàu.
Như vậy, đề tài không đề cập đến cơ cấu đội tàu hay hợp lý hóa cơ cấu đội tàu mà chỉ đề cập đến năng lực cạnh tranh của đội tàu quốc gia [33].