Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC AN NINH Ở CẢNG BIỂN 1. Một số khái niệm 1. Định nghĩa an ninh Theo một lẽ tự nhiên, khi gặp phải nguy hiểm, đe dọa, người ta thường nghĩ đến an ninh, nên nhắc tới an ninh, đặc trưng cơ bản nhất được nhắc tới là mối quan hệ giữa sự uy hiếp và nguy hiểm. Trong tiếng Trung, “an ninh” được hiểu là trạng thái chưa có nguy hiểm, không bị đe dọa, không xảy ra sự cố.
Trong tiếng Anh, “an ninh” – Security, được hiểu đơn giản là “tự do trước nỗi sợ hãi và lo lắng”, là "tự do khỏi sự nguy hiểm, rủi ro” hoặc “là sự thiếu vắng các hiểm họa”. Trong tiếng Việt, an ninh là “trật tự xã hội, tình hình chính trị yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm, là “khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa”. Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng giữa các khái niệm có sự tương đồng ở chỗ an ninh là không tồn tại sự đe dọa và nguy hiểm. An ninh là một nội dung quan trọng trong quan hệ quốc tế, là "hình thức đặc biệt của chính trị".
Tuy nhiên, an ninh không phải là khái niệm tĩnh mà luôn phát triển và mở rộng với thời gian. Nhìn lại chiều dài lịch sử thế kỷ 20, trong bối cảnh xung đột vũ trang của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Chiến tranh lạnh, khái niệm an ninh được hiểu như khả năng của một quốc gia có thể ngăn chặn được cuộc xâm lược vũ trang từ bên ngoài. Vì vậy, trong lý thuyết quan hệ quốc tế, Chủ nghĩa hiện thực đã đồng nhất coi an ninh là sự bảo vệ hay đảm bảo chủ quyền của một quốc gia trước sự tấn công hoặc ảnh hưởng của các quốc gia khác. Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng trên mọi lĩnh vực.
Trong kỷ nguyên mới, các quốc gia cũng phải đối diện với nhiều hiểm họa an ninh, không chỉ đến từ bên ngoài mà còn xuất phát từ chính bên trong, không chỉ đến từ vũ khí, máy bay, tàu chiến mà còn đến từ chính kinh tế, văn hóa, xã hội. Ô nhiễm môi 9 trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, bệnh dịch, đói nghèo, di dân, cạn kiệt tài nguyên… - những thứ vốn thuộc chủ đề “chính trị cấp thấp” trong góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực – bỗng trở nên sống động, làm tâm điểm bàn luận cho vấn đề an ninh phi truyền thống. Đó là quan niệm mới về một trạng thái an ninh với sự mở rộng theo hướng không chỉ tập trung vào cấp độ quốc gia mà còn tập trung vào cả cấp độ cá nhân và an ninh con người là một trong những cách tiếp cận nổi bật. Tuy nhiên, nhận thức và xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn chưa có sự thống nhất.
Nhiều công trình nghiên cứu đã trích dẫn quan điểm của Liên hợp quốc về vấn đề an ninh phi truyền thống bao gồm 7 lĩnh vực chính là: an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Một số nghiên cứu khác lại quy an ninh phi truyền thống về 5 lĩnh vực cơ bản gồm: an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh chính trị và an ninh văn hóa hay phân thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống, xác định an ninh phi truyền thống là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao. Tuy có nhiều quan điểm, nhưng chúng đều có một điểm chung là xác định các vấn đề an ninh phi truyền thống là gì để so sánh và qua đó thấy được sự khác biệt với vấn đề an ninh truyền thống.
Nếu an ninh truyền thống coi quốc gia là đối tượng của an ninh và giá trị của an ninh là chủ quyền quốc gia, được biểu hiện bằng sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết tối cao trong lĩnh vực đối nội đối ngoại thì an ninh phi truyền thống lại coi con người là đối tượng của an ninh và giá trị cơ bản của an ninh phi truyền thống xoay 10 quanh tất cả vấn đề khác có khả năng trở thành một mối đe dọa đối với cuộc sống của quốc gia hay cộng đồng. Tóm lại An ninh là trạng thái yên bình của xã hội, của đất nước và sự phát triển bền vững của hệ thống chính trị xã hội. An ninh quốc gia bao gồm an ninh đối nội, an ninh đối ngoại, an ninh trên tất cả các mặt như chính trị, xã hội, văn hoá, giáo dục,. trong đó đặc biệt có bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới,.
Các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia được xác định là những tội nghiêm trọng nhất của nhóm tội này và có khung hình phạt cao nhất. Định nghĩa an ninh cảng biển Trước khi tiếp cận định nghĩa an ninh cảng biển, tác giả cần làm rõ một số vấn đề về tàu biển, cảng biển, quy chế pháp lý của tàu biển, cảng biển, bởi lẽ nội dung của nó không chỉ quan trọng trong việc góp phần làm rõ định nghĩa về an ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển mà còn giúp tác giả xác định phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài. Định nghĩa tàu biển Là một phương tiện hình thành lâu đời trong lịch sử nhân loại nhưng định nghĩa tàu biển được hiểu và giải thích không đồng nhất trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Qua kết quả nghiên cứu đạt được của một số học giả thì tàu biển là bất kỳ loại tàu thuyền, có cấu trúc nổi, có kích cỡ lớn, có khả năng hành hải qua các vùng biển rộng.
Trong khi đó, tàu thuyền là cấu trúc nổi di động được thiết kế để hoạt động trên biển và các vùng nước liên quan với chức năng chuyên chở người hoặc hàng hóa. Với sự giải thích trên, thuật ngữ “tàu biển” có nội hàm hẹp hơn thuật ngữ “tàu thuyền” bởi một tàu thuyền đi trên biển gọi là tàu biển, ngược lại không thể gọi một chiếc tàu thuyền là tàu biển nếu tàu thuyền ấy hoạt động trên sông, hồ hoặc những vùng nước không liên quan đến biển. Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, định nghĩa tàu biển được tiếp cận khác nhau, có thể khái quát thành các nhóm: 11 Nhóm thứ nhất: một số quốc gia (Hoa Kỳ, Canada Liberia. Nga, Anh…) đã đưa ra định nghĩa tàu biển trên cơ sở mô tả đặc tính tàu biển là có cấu trúc nổi, dùng trong hành hải cho mục đích vận tải thương mại.
Nhóm hai: một số quốc gia như Xinh-ga-po, New Zealand đưa ra định nghĩa tàu biển trên cơ sở mô tả đặc tính tàu đồng thời liệt kê các loại tàu nào được coi là tàu biển. Nhóm ba: một số quốc gia (Autralia , Nhật Bản, Trung Quốc…) đưa ra định nghĩa về tàu biển trên cơ sở vừa mô tả đặc tính tàu, vừa kết hợp việc liệt kê các loại tàu nào là tàu biển và liệt kê những đối tượng không phải tàu biển. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về tàu biển, nhưng các định nghĩa đó đều chỉ ra những đặc điểm chung dễ nhận biết của tàu biển: Trong Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015, tàu biển được định nghĩa “là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đồng ý với định nghĩa tàu biển được đưa ra trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, bởi lẽ, định nghĩa này phù hợp với các định nghĩa về tàu biển trong các Công ước quốc tế, thể hiện rõ nét thuộc tính nổi di động, hoạt động trên biển với mục đích thương mại– vốn là những đặc điểm cơ bản của tàu biển.
Việc loại trừ các phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi ra khỏi định nghĩa tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 hiện hành là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với tinh thần của nhiều Công ước như Công ước Hagues 1924, Công ước Athens 1974, Công ước Inmarsat 1976, bởi các đối tượng này có điểm khác tàu biển là không có khả năng tự dịch chuyển trên biển. Định nghĩa cảng biển Cảng biển có lịch sử hình thành lâu đời, đánh dấu sự nhận thức của con người từ rất sớm về vai trò của giao thông vận tải biển và một trong những 12 công trình cảng biển lâu đời nhất được biết đến trên thế giới là cảng Alexandria, xây dựng vào năm 1900 trước công nguyên. Nếu như khó tìm được một định nghĩa thống nhất về tàu biển, thì với cảng biển, dường như có một cách hiểu tương đối nhất quán trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Từ định nghĩa cảng biển, có thể nhận thấy được đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất: cảng biển là đầu mối giao thông quan trọng kết nối giữa biển với đất liền, nơi tiếp nhận tàu biển ra, vào hoạt động để thực hiện thao tác xếp dỡ hàng hóa và vận chuyển hành khách.
Do đó, chức năng chủ yếu của cảng biển là phục vụ tàu biển, cung cấp các các dịch vụ cho tàu vào cảng như dịch vụ thông quan, hoa tiêu, lai dắt, vệ sinh hầm hàng, cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu, bảo đảm an ninh cho tàu khi tàu neo đậu tại cảng… Phục vụ hàng hóa cũng là chức năng chủ yếu của cảng biển theo đó cảng biển sẽ cung cấp các dịch vụ như xếp dỡ, giao nhận, chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu, phục vụ hàng quá cảnh.