Chương 1: Quan hệ truyền thông giữa báo chí và phát triển kinh tế biển đảo. Chương 2: Thực trạng thông tin của báo in với phát triển kinh tế biển đảo miền Trung. Chương 3: Giải pháp báo in về phát triển kinh tế biển đảo miền Trung. 12 Chƣơng 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA BÁO CHÍ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO MIỀN TRUNG 1.1 Báo chí Ở nước ta, thuật ngữ báo chí có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, báo chí là “báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ (nói khái quát)”. 56] Trong khi đó, tác giả Dương Xuân Sơn quan niệm báo chí là phương tiện thông đại chúng truyền tải thông tin các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn. Qua các định nghĩa trên về thuật ngữ báo chí, có thể thấy quan niệm thứ nhất báo chí có thể hiểu là loại hình báo in; quan niệm thứ hai báo chí có thể hiểu là bao gồm các loại hình báo chí. Tổng hợp hai nhận định trên, tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng, báo chí có thể hiểu theo 2 nghĩa.
Theo nghĩa hẹp, báo chí được hiểu là những ấn phẩm báo và tạp chí. Theo nghĩa rộng, báo chí bao gồm các loại hình: báo in (báo giấy), phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình), báo điện tử (báo mạng). Trong cuộc sống hàng ngày người ta hay đồng nhất báo chí với truyền thông đại chúng (TTĐC) nhưng thực ra báo chí chỉ là một phần mà thôi. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu báo chí là một bộ phận của TTĐC, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của TTĐC.
Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến TTĐC - trước hết phải nói đến báo chí. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu thực tế thực hiện nhiệm vụ thông tin, truyền thông của báo in (chủ yếu là báo) với phát triển kinh tế biển đảo miền Trung. Cụ thể, tác giả nghiên cứu 6 tờ báo: BND, BTN, BTT, BNA, BĐN, BKH và một tạp chí là TCBVN.2 Biển đảo Trong từ điển tiếng Việt, biển là vùng nước mặn rộng lớn nói chung trên bề mặt trái đất; phần đại dương ở ven đại lục, ít nhiều bị ngăn ra bởi đất liền hoặc bởi những đảo. Trong khi đó, đại dương được hiểu là “biển lớn, tiếp giáp với cả một châu hoặc một vùng lớn hơn”.300] Như vậy, biển chỉ là một phần nhỏ của đại dương bị giới hạn bởi mép lục địa, các đảo và các vùng cao của đáy.
Theo Luật Biển Việt Nam, Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, cụ thể: - Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. - Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. - Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
- Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Còn nếu mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2. - Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trong khi đó, tại điều 121 của Công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về biển: 14 “Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”.53] Còn quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau. Để được coi là đảo thì cần phải hội tụ các điều kiện sau đây: - Nền nổi này phải gắn với đáy biển; - Nền nổi này phải là nền đất và như đất liền (tàu thuyền bị thả trôi, các vật thể tự nhiên di chuyển như các tảng băng.không được coi là đảo. Tuy nhiên, cấu tạo từ bùn, san hô, cát, đất rắn, đá.không ảnh hưởng đến việc xác định đó là đảo hay không). - Đảo phải có nước bao bọc.
Vì vậy, một đảo nối liền với bán đảo khi thủy triều xuống thấp có thể làm mất tính đảo trong khi một đảo nối liền bởi một cây cầu hay một đường hầm không làm mất tính đảo. - Khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. Điều này có nghĩa loại bỏ tất cả các bãi cạn nửa chìm nửa nổi khỏi các định nghĩa về đảo.3 Phát triển kinh tế biển đảo miền Trung * Kinh tế biển đảo Kinh tế biển là một lĩnh vực kinh tế đa ngành. Xã hội càng hiện đại thì các ngành kinh tế biển càng đa dạng.
Ở Việt Nam thời kỳ chưa có nhà nước phong kiến độc lập tự chủ (đến 938), kinh tế biển “với hình thức săn bắt và hái lượm, người Việt cổ đã sử dụng một số loại tài nguyên biển trong cuộc sống của mình”;“lợi dụng thuỷ triều để trồng lúa hay giao thông thương mại”.179] Thời kỳ có nhà nước phong kiến độc lập tự chủ (938 - 1945): “Phát triển kinh tế biển của Việt Nam được phát triển chủ yếu vẫn là khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có vừa phục vụ cho cuộc sống, vừa để cúng tiến các bậc vua chúa, cống nạp và một phần cho thương mại”.179] Thời kỳ này chủ yếu là đánh bắt hải sản, làm nước mắm, nghề làm muối và nhất là việc giao thương đường biển được các triều phong kiến chú trọng nhất là thời các chúa Nguyễn. Từ 1945 đến trước đổi mới ngoài các ngành nghề lâu đời lúc này chú trọng đánh bắt hải sản tuy nhiên phương tiện lạc hậu nên chủ yếu đánh bắt gần bờ. Từ đổi mới cho đến nay “kinh tế biển đã 15 được xây dựng với đầy đủ các lĩnh vực, bao gồm: 1) nghề cá (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến); 2) khai thác khoáng sản; 3) hàng hải (đóng tàu, chuyên chở, xây dựng cảng); 4) du lịch và giải trí biển; 5) dịch vụ biển (sản xuất các thiết bị, phương tiện làm việc trong biển); 6) an ninh - quốc phòng (quản lý vùng biển)”.181] Theo tác giả Phan Thị Yến Tuyết: “Kinh tế biển là khái niệm bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động liên quan trực tiếp đến khai thác biển. Chủ thể của những hoạt động kinh tế, khai thác tài nguyên trên biển, trên đất liền ven biển vùng biển - đảo là những cộng đồng ngư dân và cư dân ven biển”.
Hồ Tấn Sang, kinh tế biển hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, kinh tế biển bao gồm “Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: 1. Kinh tế Hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); 2. Khai thác Dầu khí ngoài khơi; 4.
Du lịch biển; 5. Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và 7. Kinh tế đảo”.8] Trong khi đó, theo nghĩa rộng, kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và “các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển đảo tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: 1. Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); 2.
Công nghiệp khai thác khoáng sản biển và chế biến dầu khí; 3. Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; 4. Cung cấp dịch vụ biển; 5. Thông tin liên lạc (biển); 6.
Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển”.8] Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi quy ước khái niệm kinh tế biển đảo hiểu theo nghĩa rộng, là lĩnh vực kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển. * Phát triển kinh tế biển đảo Ngày nay, thuật ngữ phát triển được sử dụng rất phổ biến cho hầu hết lĩnh vực, 16 ngành nghề. Theo từ điển Tiếng Việt, phát triển là “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.797] Từ khái niệm về phát triển và kinh tế biển đảo, có thể hiểu phát triển kinh tế biển đảo là quá trình vận động theo hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hoạt kinh tế trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dãi đất liền ven biển trong một chu kỳ hay một giai đoạn nhất định của thực tiễn. * Phát triển kinh tế biển đảo miền Trung Miền trung bao gồm 14 tỉnh, thành từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng đối với nước ta.