MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Luật Thanh niên năm 2020 đã khẳng định: Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của thanh niên là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội. Thanh niên Việt Nam nói chung, ĐNTT trẻ Việt Nam nói riêng là lực lượng xung kích cách mạng, lực lượng trọng yếu trên nhiều lĩnh vực.
ĐNTT trẻ Việt Nam là bộ phận của thanh niên Việt Nam, là tinh hoa của dân tộc, là lực lượng đang độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ. Bởi vậy, cần chú trọng bồi dưỡng và phát triển ĐNTT trẻ, họ chính là nhân tố quan trọng góp phần quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao vai trò của ĐNTT, trong đó có ĐNTT trẻ. Đại hội VI của Đảng thể hiện vấn đề dân chủ đối với trí thức: “Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho các khả năng sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển” [42].
Những chủ trương, chính sách của Đảng đã giúp ĐNTT trẻ phát huy năng lực, sáng tạo, thể hiện tốt vai trò và khả năng sáng tạo góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý Nhà nước. Đại hội IX của Đảng đã đề cập đến chính sách khuyến khích trí thức tài năng: “Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ. Có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc” [43]. Với những chính sách, đường lối đó đã giúp ĐNTT trẻ khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của họ để bù đắp lại công lao sáng tạo.
Chính sách đãi ngộ riêng cho ĐNTT cho thấy quản lý và sử dụng trí thức đã được chú trọng. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng ĐNTT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, 1 luan an tien si HĐH đất nước đã chỉ ra rằng: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Và nhấn mạnh: “Mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức” [48].
Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức.
Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước” [44]. Khẳng định trình độ, năng lực ĐNTT ngày càng đáp ứng yêu cầu công việc. Chính sách thu hút, đãi ngộ đã được triển khai, chú trọng. Có những cơ chế tạo tiềm lực về vật chất, tinh thần phát huy hơn nữa tiềm năng trí tuệ của ĐNTT, tập hợp thu hút ĐNTT, trong đó có ĐNTT trẻ tham gia công hiến cho đất nước.
Đại hội XII của Đảng đã đề cập: “Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài” [45]. Đại hội đã chú trọng đến vai trò của ĐNTT, trong đó có ĐNTT trẻ trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho ĐNTT Việt kiều phát huy khả năng sáng tạo. Việc tạo điều kiện để trí thức Việt kiều về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ,.
còn góp phần tạo môi 2 luan an tien si trường và điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa cán bộ khoa học, kĩ thuật trong nước với trí thức Việt kiều nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, văn kiện Đại hội đã chỉ rõ quan điểm của Đảng ta về việc phát triển ĐNTT ngày càng lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Để làm được điều này, văn kiện Đại hội cũng đưa ra một số định hướng như cần có những cơ chế để phát huy được sự tự do sáng tạo, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học, “có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức.
Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng. Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức”. Cùng với sự phát triển của đất nước, ĐNTT ngày càng tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, đang trực tiếp từng bước cùng đất nước xóa đói, giảm nghèo, hội nhập quốc tế sâu rộng. ÐNTT đã đóng góp tích cực vào quá trình thực thi công vụ, xây dựng lý luận, hình thành những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp tham gia đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình có giá trị, nhiều sản phẩm chất lượng cao; góp phần nâng cao trình độ KHCN của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới.
Mười năm trở lại đây, trí thức Việt Nam phát triển nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng và đã thực sự hình thành một ĐNTT mới. ĐNTT có 3 luan an tien si những đóng góp không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Họ có mặt ở tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế xã hội, hệ thống chính trị, KHCN, GDĐT. Đến năm 2017, ước tính cả nước có khoảng 6,5 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, tăng hơn 3,7 triệu người so với năm 2009 (năm đầu tiên triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW).
Theo kết quả này, ĐNTT Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người sau 9 năm (2009 - 2017) so với 2,25 triệu người trong 10 năm trước khi ban hành Nghị quyết số 27- NQ/TW (1999 - 2009). Ngoài trí thức trong nước, còn có khoảng hơn 400.000 người trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sỹ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới [97]. Một bộ phận đông đảo trí thức trẻ trong nền công vụ đã phát huy tính sáng tạo, thể hiện tốt vai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng, trình độ quản lý của Nhà nước. Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Một bộ phận trí thức trẻ Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc, nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các cơ quan nhà nước, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, ĐNTT nói chung, ĐNTT trẻ nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước; tỷ lệ trí thức trẻ có trình độ cao vào làm việc trong các cơ quan nhà nước chưa nhiều, nhiều trí thức trẻ đã được tuyển dụng nhưng lại xin thôi việc, chuyển ra ngoài nhà nước, chảy máu chất xám còn xảy ra nhiều; quá trình thực thi công vụ chưa tạo được môi trường thuận lợi phát huy hết tiềm năng ĐNTT trẻ; cơ cấu ĐNTT trẻ trong nền công vụ có những mặt bất hợp lý về ngành, nghề, độ tuổi, giới tính. ĐNTT tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu 4 luan an tien si ngành còn thiếu nghiêm trọng; chưa có nhiều tập thể lao động thực sự mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế; hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng nền công vụ hiệu lực, hiệu quả còn chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn đời sống xã hội.
Những hạn chế, yếu kém của ĐNTT do nhiều nguyên nhân như: nền kinh tế nước ta còn lạc hậu, trình độ KHCN còn thấp; cơ sở vật chất nhiều nơi chưa đảm bảo; việc ứng dụng KHCN vào quá trình công tác chưa cao; chưa có môi trường đầy đủ điều kiện để phát huy hết năng lực sáng tạo của trí thức trẻ. Một bộ phận trí thức còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng nền kinh tế tiểu nông, cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, mặt trái của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Một bộ phận lãnh đạo quản lý còn cục bộ, chưa nhận thức và chưa có ý thức trong trọng dụng hiền tài. Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp chưa có đầy đủ giải pháp để phát huy vai trò ĐNTT, đặc biệt là ĐNTT trẻ trong nền công vụ.
Nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về công tác trí thức chậm đi vào cuộc sống; có nơi, có lúc thực hiện thiếu nghiêm túc.