Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh lào cai theo tiếp cận năng lực

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên ở các trường trung, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

215
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

2. THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LÀO CAI THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

3. YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH LÀO CAI THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu luận án

0.3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cho giáo viên THPT Lào Cai là một nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Quản lý hoạt động này không chỉ giúp giáo viên phát triển năng lực mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực. Theo tiếp cận năng lực, việc quản lý cần phải gắn liền với thực tiễn giảng dạy và nhu cầu phát triển của giáo viên. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (KHSPƯD) là một trong những phương pháp hiệu quả để cải tiến chất lượng dạy học. Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học vào thực tiễn giảng dạy là rất cần thiết.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

Nghiên cứu KHSPƯD giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn và cải thiện phương pháp giảng dạy. Giáo viên THPT cần có khả năng áp dụng các lý thuyết vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Việc này không chỉ giúp giáo viên phát triển bản thân mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường. Theo quản lý giáo dục, việc khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu sẽ tạo ra động lực cho họ trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên sẽ có trách nhiệm hơn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh.

II. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng tại Lào Cai

Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu KHSPƯD tại các trường THPT tỉnh Lào Cai cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Quản lý nghiên cứu hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Nhiều giáo viên vẫn chưa nhận thức rõ vai trò của nghiên cứu trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Theo khảo sát, chỉ một số ít giáo viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu một cách tích cực. Điều này dẫn đến việc chất lượng nghiên cứu không cao và chưa có nhiều ứng dụng thực tiễn. Năng lực giáo viên cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu. Việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho giáo viên là cần thiết để cải thiện tình hình này.

2.1. Những yếu tố tác động đến hoạt động nghiên cứu

Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động nghiên cứu KHSPƯD của giáo viên tại Lào Cai. Đầu tiên, chính sách giáo dục và sự hỗ trợ từ các cấp quản lý có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nghiên cứu. Thứ hai, môi trường làm việc và điều kiện cơ sở vật chất cũng đóng vai trò quan trọng. Nếu môi trường không thuận lợi, giáo viên sẽ khó có thể tập trung vào nghiên cứu. Cuối cùng, động cơ và nhận thức của giáo viên về nghiên cứu cũng là yếu tố quyết định. Nếu giáo viên không thấy được lợi ích từ việc nghiên cứu, họ sẽ không có động lực để tham gia.

III. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu KHSPƯD, cần có những biện pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng các quy chế rõ ràng về hoạt động nghiên cứu cho giáo viên. Đào tạo giáo viên về phương pháp nghiên cứu cũng là một yếu tố quan trọng. Việc tổ chức các khóa bồi dưỡng sẽ giúp giáo viên nâng cao năng lực nghiên cứu. Thứ hai, cần tạo ra môi trường thuận lợi cho giáo viên tham gia nghiên cứu. Điều này bao gồm việc cung cấp tài liệu, thiết bị và hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu. Cuối cùng, cần có cơ chế đánh giá và khen thưởng cho những giáo viên có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu.

3.1. Tổ chức các khóa bồi dưỡng cho giáo viên

Tổ chức các khóa bồi dưỡng về nghiên cứu KHSPƯD sẽ giúp giáo viên nâng cao kỹ năng và kiến thức. Các khóa học này nên được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của giáo viên. Ngoài ra, việc mời các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục tham gia giảng dạy sẽ giúp giáo viên có cái nhìn sâu sắc hơn về nghiên cứu. Việc này không chỉ nâng cao năng lực cho giáo viên mà còn tạo ra động lực cho họ trong việc tham gia nghiên cứu. Hơn nữa, các khóa bồi dưỡng cũng cần được tổ chức thường xuyên để đảm bảo giáo viên luôn cập nhật kiến thức mới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh lào cai theo tiếp cận năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng hiện nay là xu thế chung của nghiên cứu khoa học giáo dục thế kỷ XXI, nó không chỉ là hoạt động dành cho những nhà nghiên cứu mà trở thành hoạt động thường xuyên của mỗi giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng còn được coi là nghiên cứu tác động, nhằm tìm kiếm các biện pháp khắc phục hạn chế, yếu kém của hoạt động dạy học và giáo dục như môn học, lớp học, tiết học, trường học, hướng nghiệp, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Trên thế giới, nghiên cứu KHSPƯD được thực hiện từ thế kỷ XIX và được phát triển mạnh mẽ đầu thế kỷ XX.

Tại Việt Nam, nghiên cứu KHSPƯD được đưa vào áp dụng từ những năm đầu của thế kỷ XXI, năm 2007, được sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án Việt Bỉ đã tổ chức tiếp cận và phổ biến cách thức thực hiện đề tài nghiên cứu KHSPƯD dành cho giáo viên phổ thông các tỉnh miền núi phía Bắc, triển khai tại các trường THPT từ năm học 2012-2013 cho đến nay. Công trình nghiên cứu về tiếp cận năng lực 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 1970, đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận trong những bối cảnh khác nhau. Tác giả McClelland (1973) cho rằng “năng lực như là một đặc tính cơ bản để thực hiện công việc”.

13 Trong nghiên cứu của mình, tác giả Dubois và cộng sự (2004) định nghĩa “năng lực là các đặc tính mà cá nhân có được và sử dụng chúng trong những ngữ cảnh thích hợp và nhất quán để đạt được kết quả mong muốn”. Những đặc tính này bao gồm kiến thức, kỹ năng, động cơ, nét tiêu biểu, cách suy nghĩ, cảm nghĩ, hành động… [129]. Tác giả Woodall và Winstanley (1998) cho rằng “năng lực là tập hợp các kiến thức, sự hiểu biết, kỹ năng, phẩm chất, niềm tin và thái độ dẫn đến việc thực hiện công việc hiệu quả theo từng bối cảnh, từng tình huống hoặc vai trò nhất định” [136]. Tiếp cận năng lực trong giáo dục và đào tạo được thực hiện ở các nước phát triển trên thế giới từ những năm 70 của thế kỷ XX.

Năm 1977, tại Mỹ có 22 bang thực hiện giáo dục dựa trên tiếp cận năng lực, đến những năm 80 của thế kỷ XX toàn bộ nước Mỹ đã thực hiện tiếp cận năng lực trong giáo dục. Nhà nghiên cứu William E. Blank (1980) đã làm rõ các nguyên tắc khi áp dụng tiếp cận năng lực trong giáo dục, trọng tâm là phát triển chương trình theo hướng tiếp cận năng lực; mục tiêu lớn nhất là đội ngũ giáo viên trong các cơ sở giáo dục, theo tác giả để phát triển chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực phải xác định rõ đầu ra của người học; cách thức tổ chức giáo dục, tập trung vào các hoạt động của học sinh chứ không phải cách dạy của giáo viên. (1991, 1992) trong công trình “Designing Competence Based Training” đã đưa ra phương pháp thiết kế giáo dục và đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực; phân tích các thuật đánh giá, các nguyên tắc và thực hành đánh giá theo tiêu chuẩn mục tiêu và sử dụng đánh giá dựa trên năng lực.

Tác giả Mike Keating (2012) trong công trình nghiên cứu “Competency Based Training Introduction and Dejinitions” cho rằng trong giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực để người học chứng tỏ khả năng khi học tập, từ đó hình thành năng lực cá nhân, việc thực hiện này đồng thời hình thành năng lực mới cho giáo viên và học sinh. Theo Key Competencies A developing concept in general compulsory education- Eurydice (2002, các nước trong khối EU đã bàn 14 luận rất sôi nổi về khái niệm Năng lực chính (key competence) và tuyên bố: “ để chuẩn bị cho thế hệ trẻ thành công khi đối mặt với những thách thức của xã hội thông tin và nhận được tối đa lợi ích từ những cơ hội mà xã hội đó tạo ra đã trở thành mục tiêu quan trọng của hệ thống GD châu Âu. Nó định hướng cho sự thay đổi chính sách GD, xem xét lại nội dung chương trình và phương pháp dạy- học. Điều đó chắc chắn càng làm gia tăng sự chú ý tới các năng lực cơ bản, cụ thể là những năng lực hướng vào cuộc sống với mục đích suốt đời tham gia xã hội một cách tích cực.

Các công trình nghiên cứu ở trong nước Tiếp cận năng lực người dạy xuất hiện ở nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Dự án SREM của Bộ Giáo dục và Ðào tạo nãm 2007 nghiên cứu xây dựng bản đồ năng lực của Hiệu trưởng trường phổ thông có bốn nhóm nãng lực: Năng lực lãnh đạo trường, năng lực lãnh đạo và quản lí nguồn nhân lực và nãng lực quản lí các nguồn lực. Trong công trình nghiên cứu “Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục” của Nguyễn Thị Thu Hà (2014) tác giả nêu một số khác biệt giữa tiếp cận truyền thống và tiếp cận năng lực, nếu coi tiếp cận truyền thống là là tiếp cận nội dung, kiến thức tập trung vào tích lũy kiến thức, nhấn mạnh tới năng lực nhận thức và tiếp cận truyền thống tập trung vào đo lường kiến thức qua các bài thi, tiếp cận theo năng lực tập trung vào phát triển nghề nghiệp giáo viên, từ đó hình thành các năng lực cần thiết cho học sinh. Theo Đặng Bá Lãm (2015) giáo dục hướng tới phát triển năng lực người học, đã làm rõ những yêu cầu cấp bách về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóng thoát khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển sang mô hình giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực người học, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học.

Nghĩa là phải thay đổi quan điểm, mục tiêu dạy học: Từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học. 15 Nhóm tác giả Phạm Phương Tâm, Lê Thị Thơ với nghiên cứu “Đề xuất mô hình bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học theo hướng tiếp cận CDIO cho giảng viên trường cao đẳng nghề vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” cũng đã phân tích cơ sở lí luận và thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trường cao đẳng nghề vùng Đồng bằng Sông Cửu Long theo tiếp cận CDIO. Từ đó, làm nền tảng đề xuất mô hình bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng nghề vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, giúp giảng viên tăng khả năng thực hiện các đề tài nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và hội nhập quốc tế [91]. Nhận xét: nhìn chung có rất nhiều công trình ở nước ngoài cũng như trong nước nghiên cứu theo hướng hướng tiếp cận năng lực, điểm chung của các công trình nghiên cứu này là cách tiếp cận để hình thành năng lực cho người học, để làm được vấn đề này giáo viên phân biệt được năng lực chung, năng lực chuyên biệt trong công tác giảng dạy, nghiên cứu đây là xương sống của vấn đề.

Các công trình nghiên cứu về khoa học sư phạm ứng dụng, quản lí khoa học sư phạm ứng dụng 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng rất được coi trọng ở nhiều nước trên thế giới trong khoảng mười năm gần đây. Hiện tại, các nước và vùng lãnh thổ đang thực hiện như: Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc… Cuốn tài liệu tập huấn về nghiên cứu KHSPƯD của hai tác giả: TS. Soh Kay Cheng và TS.

Christopher Tan có nêu: “Giáo viên trong thế kỷ XXI đang phải đối mặt với nhiều thách thức hơn bao giờ hết. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, nhiều nước đã và đang thực hiện cải cách giáo dục để đối mặt với sự phát triển nhanh chóng của thế giới. Các quốc gia này đặt ra yêu cầu và mục tiêu giáo dục cao hơn nhằm đào tạo học sinh đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện đại đồng thời cũng yêu cầu giáo viên áp dụng phương 16 pháp dạy học mới, xây dựng tài liệu giảng dạy mới và thực thi các biện pháp quản lí mới. Nghiên cứu khoa học ứng dụng là một phần trong việc phát triển chuyên môn của giáo viên thế kỷ XXI.

Trong nghiên cứu khoa học ứng dụng, giáo viên cần đạt được các kỹ năng: thực hiện nghiên cứu; giải quyết vấn đề; nhìn lại cả quá trình nghiên cứu và tự đánh giá; giao tiếp và hợp tác. Nghiên cứu KHSPƯD trên thế giới phát triển rất mạnh mẽ với các nghiên cứu của Boone (1904), Buckingnham (1926), Lewin (1942, 1944, 1946), Coller (1963), Bain (1979), Ebbutt (1985), Hopkins (1985), Elliott (1991). Trong quá trình nghiên cứu khoa học ứng dụng, giáo viên nghiên cứu kết quả học tập của học sinh liên quan tới việc giảng dạy của họ. Quy trình này giúp giáo viên hiểu thực tế giảng dạy của chính họ và tiếp tục theo dõi sự tiến bộ trong học tập của học sinh” (Rawlinson & Little, 2004).

“Ý tưởng về nghiên cứu KHSPƯD xuất phát từ việc: có thể nhận dạng và tìm hiểu rõ nhất nguyên nhân của các vấn đề và hệ quả trong giáo dục ở chính những nơi có sự tác động, đó là lớp học và trường học. Thông qua việc tích hợp nghiên cứu vào các môi trường này và thu hút sự tham gia của những người có liên quan vào hoạt động nghiên cứu, chúng ta có thể áp dụng tức thời kết quả nghiên cứu và giải quyết vấn đề nhanh chóng hơn” (Guskey, 2000). Nhóm tác giả Keith Howard và John A. Sharp với nghiên cứu “The management of a student research” đã mô tả, phân tích cách thức quản lí kế hoạch nghiên cứu sau khi chọn đề tài, từ đó tiến hành thu thập tài liệu lí luận, tiến hành khảo sát thực tiễn, xử lí và phân tích kết quả nghiên cứu.

Đây là nghiên cứu trên học sinh, sinh viên nhưng là gợi ý tốt cho những ý tưởng nghiên cứu của luận án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cho giáo viên THPT Lào Cai theo tiếp cận năng lực là tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học sư phạm cho giáo viên THPT tại Lào Cai. Tài liệu này cung cấp các phương pháp quản lý hiệu quả, giúp giáo viên phát triển kỹ năng nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý giáo dục và giáo viên muốn cải thiện năng lực chuyên môn.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục quản lý quá trình dạy học của trường THPT tỉnh Tuyên Quang, Luận án tiến sĩ quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, hoặc Luận án tiến sĩ quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp quản lý và đổi mới trong giáo dục.