Tổng quan về luận án
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là phân ngành gốm sứ vệ sinh, gạch ceramic và granit, đóng vai trò then chốt trong chuỗi giá trị công nghiệp Việt Nam với quy mô doanh thu ước đạt 3 tỷ USD/năm và thị trường xuất khẩu mở rộng tới hơn 40 quốc gia (Doãn Thành, 2018). Tại tỉnh Thái Bình, nhờ lợi thế nguồn khí đốt tự nhiên giá rẻ và lực lượng lao động lành nghề, sản lượng và mức tiêu thụ của các doanh nghiệp gốm sứ đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ 20% đến 25%/năm (UBND tỉnh Thái Bình, 2017). Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của chi phí năng lượng (điện, than), sự biến động nguồn men nhập khẩu, áp lực siết chặt tín dụng và hàng tồn kho lớn đã tạo nên áp lực sống còn đối với bài toán tối ưu hóa chi phí. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đặng Nguyên Mạnh (2019) với tiêu đề "Kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất gốm, sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình" tại Trường Đại học Thương mại (chuyên ngành Kế toán, mã số 62.01) đã giải quyết trực diện bài toán này.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tế: Phần lớn các công trình nghiên cứu kế toán quản trị (KTQT) tại Việt Nam tiếp cận theo quy trình kỹ thuật thuần túy hoặc cấu thành phân hệ riêng lẻ (Trần Thế Nữ, 2011; Đào Thúy Hà, 2015; Lê Thị Minh Huệ, 2016), mà thiếu vắng mô hình tích hợp toàn diện kế toán quản trị chi phí (KTQTCP) gắn liền với 4 chức năng quản trị doanh nghiệp (Lập kế hoạch, Tổ chức thực hiện, Kiểm soát - đánh giá, Hỗ trợ ra quyết định) trong các doanh nghiệp tư nhân đặc thù cấp cụm ngành địa phương.
Luận án thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và 3 nhóm giả thuyết tương ứng:
- RQ1: Khung lý luận về KTQTCP theo các chức năng quản trị và hệ thống các nhân tố chi phối việc ứng dụng KTQTCP trong doanh nghiệp sản xuất được xác lập như thế nào?
- RQ2: Thực trạng KTQTCP phục vụ các chức năng quản trị và mức độ tác động của các nhóm nhân tố tại 30 doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng tỉnh Thái Bình diễn ra ra sao trong giai đoạn 2013–2017?
- RQ3: Những giải pháp kỹ thuật và điều kiện tổ chức nào có thể chuẩn hóa, gia tăng hiệu quả vận dụng KTQTCP nhằm tối ưu hóa chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp này?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa của Lý thuyết Kinh tế (Economic Theory), Lý thuyết Tâm lý học (Psychological Theory) và Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory). Với phạm vi khảo sát toàn bộ 30 doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong khung thời gian từ 2013 đến 2017, công trình tạo ra đóng góp đột phá khi định hình mô hình KTQTCP đa chiều, mở đường cho việc chuyển đổi hệ thống kế toán truyền thống sang hệ thống kế toán chiến lược tạo lập giá trị.
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy sự phân hóa rõ rệt qua các dòng lý thuyết và trường phái tiếp cận KTQTCP:
Dòng nghiên cứu về dự toán và kiểm soát ngân sách: Demski và Feltham (1978) vận dụng lý thuyết kinh tế chứng minh rằng dự toán ngân sách tạo ra sự cải thiện Pareto thông qua cơ chế phân bổ nguồn lực tối ưu. Ngược lại, Birnberg và cộng sự (2006) đặt trọng tâm vào lý thuyết tâm lý học hành vi, chứng minh dự toán tác động vô điều kiện đến mức độ thỏa mãn, áp lực và cam kết của nhân sự. Đặc biệt, trường phái xã hội học của Czarniawska và Jacobsson (1989) định vị lại: "Dự toán ngân sách không chỉ là ngôn ngữ của các con số mà còn là ngôn ngữ của sự đồng thuận, cho phép xử lý các vấn đề dự kiến có thể xảy ra mà không làm phát sinh các vấn đề xung đột". Tuy nhiên, Mark Covaleski và cộng sự (2007) chỉ trích rằng dự toán truyền thống thường dựng nên các rào cản phòng ban, hạn chế phản hồi và kìm hãm đổi mới.
Dòng nghiên cứu về kế toán chi phí chiến lược và tính chi phí mục tiêu (Target Costing - Genka Kikaku): Khởi nguồn từ ngành công nghiệp lắp ráp Nhật Bản với tỷ lệ áp dụng lên đến 80% (Monden & Hamada, 1991; Kato, 1993; Cooper & Slagmulder, 1997), Target Costing đã định hình một cuộc cách mạng quản trị chi phí từ khâu R&D. So sánh quốc tế cho thấy tỷ lệ áp dụng Target Costing có sự chênh lệch lớn giữa các nền kinh tế: Hà Lan đạt 59,4%, trong khi Úc chỉ đạt 38% và Hoa Kỳ dừng lại ở mức 26% (Askarany; Chapman et al., 2007). Đối với phương pháp phân bổ chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (Activity-Based Costing - ABC), nghiên cứu của Cooper và Kaplan (1992) cùng dữ liệu tổng hợp của Mark Covaleski và cộng sự (2007) ghi nhận tỷ lệ tiếp nhận ABC tại Hoa Kỳ tăng từ 25% lên 52%, Anh từ 6% lên 23%, và Úc từ 12% lên 56%.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phương (2013) về kế toán trách nhiệm trong ngành sữa, Trần Thị Thu Hường (2014) về hệ thống thông tin KTQTCP ngành xi măng trên nền tảng ERP, và nghiên cứu định lượng của Trần Ngọc Hùng (2016) trên các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đặt nền móng quan trọng. Dù vậy, các công trình đi trước chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa mô hình quản trị kinh nghiệm gia đình tại các doanh nghiệp địa phương với yêu cầu tích hợp các kỹ thuật hiện đại như Chi phí theo vòng đời sản phẩm (Life Cycle Costing - LCC theo Sieglinde, 1995; Seung, Roh et al., 2018) và Quản lý chất lượng toàn diện (TQM theo Deming; Hoque; Birnberg et al., 2006).
Luận án định vị chính xác khoảng trống này bằng cách so sánh đối chiếu thực nghiệm giữa thực tiễn quản trị tại các doanh nghiệp gốm sứ Thái Bình với mô hình quản trị chi phí tiên tiến của Hoa Kỳ (Standard Costing & ABC), Đức (Grenzplankostenrechnung - GPK) và Nhật Bản (Genka Kikaku/Kaizen Costing).
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory - Abdel-Kader, 2006; Malcolm, 2013) bằng việc chứng minh cấu trúc kế toán quản trị không thể áp dụng rập khuôn mà phải tương thích với bối cảnh công nghệ sản xuất liên tục, phụ thuộc nhiên liệu khí đốt và cấu trúc tổ chức "ranh giới mờ" (Shlomon Maital, 2014). Đồng thời, nghiên cứu tái khẳng định bản chất chi phí theo quan điểm chính trị kinh tế Mác - Lênin: "Chi phí là sự tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định" (Nguyễn Ngọc Quang, 2014), kết hợp với định nghĩa hiện đại của tác giả: "Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống quản trị doanh nghiệp thuộc hệ thống thông tin kế toán quản trị, là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, cung cấp thông tin chi phí trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức".
Sự chuyển dịch mô hình lý thuyết (Paradigm Shift) thể hiện qua việc nâng tầm KTQTCP từ vai trò bị động (thu thập, ghi chép số liệu quá khứ phục vụ báo cáo tài chính) sang vai trò chủ động (kiến tạo giá trị, tư vấn chiến lược và kiểm soát rủi ro vận hành theo Chapman et al., 2007 và Corina, 2012).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đồng bộ 3 trường phái lý thuyết (Kinh tế học thể chế, Tâm lý học hành vi, và Lý thuyết ngẫu nhiên) qua mô hình ma trận liên kết giữa 4 chức năng quản trị với 3 nhóm nhân tố tác động:
+-------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH KTQTCP THEO CHỨC NĂNG |
+-------------------------------------------------------------------------+
| [1. LẬP KẾ HOẠCH] --> Định mức chi phí kỹ thuật (NVLTT, NCTT, SXC)|
| Dự toán linh hoạt, Target Costing, LCC |
| [2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN] --> Mô hình chi phí thực tế/tiêu chuẩn, ABC, |
| Tập hợp chi phí theo quá trình/công đoạn |
| [3. KIỂM SOÁT/ĐÁNH GIÁ]--> Phân tích chênh lệch (Variance Analysis), |
| Kế toán trách nhiệm, Benchmarking |
| [4. RA QUYẾT ĐỊNH] --> Phân tích CVP, Điểm hòa vốn, EOQ, |
| Định giá sản phẩm mới, Make-or-Buy |
+-------------------------------------------------------------------------+
^
| Tác động đồng thời
+-------------------------------------------------------------------------+
| [NHÓM NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỨNG DỤNG KTQTCP] |
| * Nhóm Con người: Nhận thức của chủ sở hữu/CEO, năng lực kế toán viên |
| * Nhóm Tổ chức: Quy mô, công nghệ sản xuất, văn hóa, cấu trúc bộ máy |
| * Nhóm Bên ngoài: Mức độ cạnh tranh, biến động giá nhiên liệu, CSPL |
+-------------------------------------------------------------------------+
Điều kiện biên (Boundary conditions) của khung phân tích được xác lập rõ ràng: Áp dụng tối ưu cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có quy trình chế biến liên tục qua nhiều công đoạn (chuẩn bị phối liệu men/xương, tạo hình ép dập, sấy nung bằng khí đốt tự nhiên, tráng men, phân loại bao gói), chịu sự chi phối mạnh bởi biến động chi phí năng lượng và chi phí khấu hao máy móc công nghệ cao.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ thế giới quan thực chứng (Positivism) kết hợp phương pháp luận diễn dịch - quy nạp. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Sequential Mixed-Methods Design) được triển khai bài bản qua 2 pha: Định tính (nhằm hoàn thiện công cụ đo lường và xác lập khung lý thuyết) và Định lượng (nhằm khảo sát thực trạng, đo lường thống kê mô tả và kiểm định ảnh hưởng của các nhân tố).
Tổng thể nghiên cứu bao gồm toàn bộ 30 doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đại diện cho 100% quần thể ngành tại địa phương.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu được thiết kế đa nguồn và đối chiếu tam giác (Triangulation):
-
Khảo sát thử nghiệm (Pilot test): Lấy mẫu có chủ đích tại 3 doanh nghiệp đại diện cho 3 loại hình và quy mô khác nhau:
- Công ty TNHH SXKD sứ Hảo Cảnh (Doanh nghiệp TNHH quy mô lớn).
- Công ty TNHH sứ Đông Lâm (Doanh nghiệp TNHH quy mô vừa).
- Công ty Cổ phần gốm sứ Long Hầu (Doanh nghiệp cổ phần hóa từ gốc doanh nghiệp Nhà nước).
Kết quả thử nghiệm giúp chuẩn hóa thuật ngữ, loại bỏ các biến trùng lặp và hoàn thiện kết cấu 2 bộ bảng hỏi chính thức (Bảng MĐ 01).
-
Khảo sát chính thức (Survey Protocol):
- Bảng hỏi 1 (Khảo sát KTQTCP theo chức năng quản trị): Phát ra 120 phiếu tới bộ phận kế toán, thu về 72 phiếu, số phiếu hợp lệ đưa vào phân tích là 60 phiếu (tỷ lệ hợp lệ 50%).
- Bảng hỏi 2 (Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng): Thiết kế thang đo Likert 5 điểm (1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý), phát ra 530 phiếu tới lãnh đạo cấp cao, trưởng phó phòng ban, quản đốc phân xưởng; thu về 288 phiếu, số phiếu hợp lệ đạt 252 phiếu (tỷ lệ 47,5% - Bảng MĐ 02).
-
Phỏng vấn sâu và Quan sát thực địa: Tiến hành phỏng vấn có cấu trúc trực tiếp 17 nhân sự quản lý chủ chốt (thâm niên > 5 năm, thời lượng 30–50 phút/người) gồm: 03 Kế toán trưởng, 03 Kế toán viên, 01 Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng giám đốc, 01 Chủ tịch HĐTV kiêm Giám đốc, 01 Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc, 08 cán bộ quản lý cấp trung (Giám đốc nhà máy, Quản đốc xưởng). Tham vấn 06 chuyên gia đầu ngành (Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam - VAA, Chuyên gia Khởi nghiệp Quốc gia, Giảng viên cao cấp các trường đại học khối kinh tế). Quan sát thực địa tại các dây chuyền sản xuất vào các mốc thời gian trọng yếu (đầu năm, cuối năm, kỳ quyết toán tháng).
Data và phân tích
Toàn bộ dữ liệu sơ cấp được mã hóa, làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Các chỉ tiêu thống kê mô tả (Mean, Tần số, Tỷ lệ %) phản ánh chính xác bức tranh thực hành KTQTCP tại các doanh nghiệp. Kiểm soát độ tin cậy và tính giá trị của dữ liệu được đảm bảo thông qua việc sàng lọc chéo câu trả lời của các đối tượng trong cùng một đơn vị sản xuất và loại bỏ hoàn toàn các phiếu có hiện tượng đánh giá lệch lạc, đơn điệu hoặc phi logic.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Dữ liệu khảo sát thực nghiệm bộc lộ 5 phát hiện then chốt về thực trạng KTQTCP tại các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng Thái Bình:
-
Sự thiên lệch nặng nề về Kế toán tài chính (KTTC): 100% doanh nghiệp khảo sát duy trì bộ máy kế toán theo mô hình hỗn hợp nhưng thực chất chỉ thực hiện nhiệm vụ kế toán tài chính phục vụ cơ quan thuế. Công tác tập hợp chi phí chủ yếu theo phương pháp thực tế truyền thống thông qua Tài khoản 154 (Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang), hoàn toàn thiếu vắng các tài khoản chi tiết theo trung tâm trách nhiệm hay cơ sở hoạt động.
-
Định mức và Dự toán mang tính kinh nghiệm, thiếu linh hoạt: Mặc dù 100% doanh nghiệp có xây dựng định mức nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) và nhân công trực tiếp (NCTT), song phần lớn định mức được lập dựa trên phương pháp thống kê kinh nghiệm, không phản ánh chính xác hao hụt kỹ thuật và phế phẩm trong lò nung. Hệ thống dự toán dừng lại ở dự toán tĩnh hàng năm cho mục đích tài chính chung; chưa một doanh nghiệp nào áp dụng dự toán linh hoạt (Flexible Budgeting) hay các kỹ thuật dự toán chiến lược như Target Costing và Life Cycle Costing (LCC).
-
Tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung (SXC) bất hợp lý: Chi phí SXC (chiếm tỷ trọng lớn do chi phí khấu hao lò nung tuynel/con lăn tự động, nhiên liệu khí nén, điện năng) chủ yếu được phân bổ giản đơn theo chi phí nhân công trực tiếp hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất. Điều này gây méo mó nghiêm trọng giá thành đơn vị giữa các dòng sản phẩm gốm sứ cao cấp và sản phẩm phổ thông, dẫn đến sai lệch trong định giá bán.
-
Kiểm soát chi phí cục bộ, đứt gãy khâu R&D: Công tác kiểm soát chi phí chỉ tập trung vào giai đoạn sản xuất hàng ngày (kiểm tra xuất kho vật tư, chấm công), bỏ trống hoàn toàn việc kiểm soát chi phí giai đoạn R&D, thiết kế mẫu mã và quản trị chuỗi cung ứng. Báo cáo kế toán quản trị chủ yếu là các báo cáo chi phí tổng hợp cuối kỳ; việc phân tích chênh lệch (Variance Analysis) giữa định mức và thực tế chỉ được thực hiện sơ sài đối với chi phí NVLTT chính (đất sét, tràng thạch, men), bỏ qua biến động giá và hiệu suất sử dụng năng lượng.
-
Nhân tố con người giữ vai trò định đoạt: Kết quả phân tích đánh giá từ 252 nhà quản trị cho thấy nhận thức và cam kết của người đứng đầu doanh nghiệp (Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc) đạt điểm tác động trung bình cao nhất đến khả năng ứng dụng KTQTCP, tiếp theo sau là năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán viên và mức độ khốc liệt của cạnh tranh thị trường.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung luận cứ thực nghiệm khẳng định sự cần thiết phải tích hợp công cụ kế toán quản trị đương đại (Target Costing, ABC, LCC) vào khung chức năng quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất truyền thống tại các nền kinh tế mới nổi.
- Về phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán toàn diện hệ thống KTQTCP cấp doanh nghiệp thông qua bộ chỉ tiêu đánh giá 4 chức năng và 3 nhóm nhân tố.
- Về thực tiễn ứng dụng: Cung cấp lộ trình 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện phân loại chi phí: Phân định rõ biến phí - định phí, bóc tách định phí bắt buộc và định phí tùy ý.
- Hoàn thiện lập kế hoạch: Thiết lập hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật bằng phương pháp thử nghiệm trực tiếp; xây dựng dự toán linh hoạt và áp dụng bảng kế hoạch chi phí mục tiêu cho từng dòng sản phẩm mới.
- Hoàn thiện tổ chức thực hiện: Tái cấu trúc quy trình tập hợp chi phí theo từng phân xưởng/công đoạn sản xuất (CĐ1: Chế bị liệu -> CĐ2: Tạo hình -> CĐ3: Sấy nung -> CĐ4: Tráng men -> CĐ5: Đóng gói); ứng dụng mô hình chi phí tiêu chuẩn kết hợp phân bổ chi phí SXC theo kỹ thuật ABC.
- Hoàn thiện kiểm soát và đánh giá: Xây dựng hệ thống trung tâm trách nhiệm (Trung tâm chi phí tiêu chuẩn, Trung tâm doanh thu, Trung tâm đầu tư); thiết lập hệ thống báo cáo quản trị định kỳ phục vụ phân tích chênh lệch đa biến.
- Hỗ trợ ra quyết định: Ứng dụng mô hình phân tích chi phí - khối lượng - lợi nhuận (CVP), xác định điểm hòa vốn đa sản phẩm và ứng dụng mô hình số lượng đặt hàng kinh tế (EOQ) đối với nguyên liệu đất sét, men màu.
- Về chính sách: Đề xuất UBND tỉnh Thái Bình và Sở Tài chính hỗ trợ kinh phí đào tạo KTQT cho các hiệp hội doanh nghiệp, thiết lập cụm cung ứng khí tự nhiên ổn định và chuẩn hóa khung hướng dẫn KTQT theo Thông tư 53/2006/TT-BTC.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu nhất định:
- Giới hạn không gian và mẫu: Nghiên cứu tập trung toàn bộ vào 30 doanh nghiệp gốm sứ trên địa bàn tỉnh Thái Bình, dù đảm bảo tính tổng điều tra địa phương nhưng đặc thù nguồn khí đốt thiên nhiên cục bộ có thể hạn chế khả năng khái quát hóa (Generalizability) cho các vùng sản xuất gốm sứ khác như Bình Dương, Đồng Nai hay Hải Dương.
- Phương pháp xử lý số liệu định lượng: Xử lý dữ liệu chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả (Descriptive Statistics) và phân tích so sánh tỷ lệ trên SPSS 22, chưa ứng dụng mô hình hồi quy đa biến (Multiple Regression) hoặc mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM/PLS-SEM) để kiểm định định lượng sâu mối quan hệ nhân quả phức tạp giữa các nhóm nhân tố tác động và hiệu quả vận dụng KTQTCP.
- Phạm vi chi phí: Nghiên cứu giới hạn ở chi phí sản xuất kinh doanh thông thường, chưa tích hợp chi phí môi trường (Environmental Management Accounting - EMA) - một vấn đề cực kỳ cấp thiết đối với ngành gốm sứ phát thải cao.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Agenda):
- Hướng 1: Ứng dụng mô hình SEM/PLS-SEM để kiểm định định lượng tác động của văn hóa doanh nghiệp và mức độ chuyển đổi số tới mức độ hoàn thiện KTQTCP.
- Hướng 2: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng (Cross-regional comparison) giữa các cụm công nghiệp gốm sứ miền Bắc và miền Nam.
- Hướng 3: Xây dựng khung kế toán quản trị chi phí dòng vật liệu (MFCA) và kế toán chi phí môi trường nhằm phục vụ mục tiêu kinh tế tuần hoàn và trung hòa carbon trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án mang lại giá trị tác động sâu rộng trên nhiều phương diện:
- Học thuật: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực, làm giàu thêm y văn về KTQTCP ngành sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam, mở rộng hướng tiếp cận chức năng trong nghiên cứu kế toán quản trị.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp: Giúp các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ Thái Bình cắt giảm từ 5% đến 12% chi phí phế phẩm và hao hụt năng lượng nhờ áp dụng mô hình định mức kỹ thuật và kiểm soát chênh lệch chi phí nung sấy.
- Hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học giúp Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Sở Công Thương Thái Bình xây dựng quy hoạch phát triển cụm công nghiệp gốm sứ Tiền Hải bền vững gắn liền với quản trị chi phí năng lượng hiệu quả.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích KTQTCP theo 4 chức năng quản trị và bộ công cụ bảng hỏi khảo sát đã được chuẩn hóa độ tin cậy.
- Lãnh đạo doanh nghiệp (HĐQT, Ban Giám đốc): Nắm bắt phương pháp luận và công cụ cụ thể để chuyển đổi từ quản trị chi phí theo kinh nghiệm sang quản trị chi phí chiến lược dựa trên dữ liệu.
- Kế toán trưởng và Đội ngũ Kế toán viên: Sở hữu hệ thống biểu mẫu dự toán chi tiết (Dự toán NVLTT, NCTT, SXC, Dự toán giá vốn, Báo cáo chi phí phân xưởng, Mẫu phân tích EOQ) phục vụ tác nghiệp hàng ngày.
- Cơ quan quản lý Nhà nước: Có căn cứ thực tế để ban hành các chính sách khuyến khích đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý chi phí doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc tích hợp thành công Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory) vào mô hình KTQTCP theo 4 chức năng quản trị khép kín, chứng minh rằng hiệu quả của KTQTCP trong các doanh nghiệp gốm sứ phụ thuộc mật thiết vào sự tương thích giữa công nghệ nung khí đốt liên tục và nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp gia đình/tư nhân.
2. Điểm đổi mới trong phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước?
So với các nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng (2016) hay Nguyễn Thành Hưng (2017), luận án thực hiện điều tra toàn bộ 100% quần thể ngành gốm sứ địa phương (30 doanh nghiệp), kết hợp tam giác hóa dữ liệu qua 2 bộ bảng hỏi chính thức (60 phiếu kế toán và 252 phiếu nhà quản trị), phỏng vấn sâu 17 nhà quản lý và tham vấn 6 chuyên gia đầu ngành.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì?
Phát hiện bất ngờ là dù 100% doanh nghiệp đều nhận thức được vai trò sống còn của chi phí năng lượng (khí tự nhiên, than, điện) đối với giá thành sản phẩm, nhưng không một doanh nghiệp nào xây dựng được định mức tiêu hao năng lượng riêng biệt cho từng công đoạn sấy - nung mà đều gộp chung vào chi phí SXC để phân bổ bình quân theo nhân công trực tiếp.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp hệ thống 2 bộ bảng hỏi chuẩn hóa (Phụ lục MĐ 01 & MĐ 02), quy trình chọn mẫu điều tra thử 3 bước, sơ đồ quy trình tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp (Sơ đồ 3.4), cùng hệ thống biểu mẫu dự toán và báo cáo quản trị chi tiết (Biểu 3.1 đến Biểu 3.8).
5. Kế hoạch nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Kế hoạch định hướng mở rộng nghiên cứu sang mô hình Kế toán quản trị chi phí môi trường (EMA), tích hợp dữ liệu chi phí lớn (Big Data Analytics) và hệ thống ERP thông minh nhằm kiểm soát dấu chân carbon trong chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng toàn cầu.
Kết luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về KTQTCP theo 4 chức năng quản trị hiện đại, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thông tin ra quyết định của nhà quản trị.
- Nhận diện và đánh giá thực nghiệm toàn diện 3 nhóm nhân tố (Con người, Tổ chức, Bên ngoài) chi phối việc vận dụng KTQTCP tại 30 doanh nghiệp sản xuất gốm sứ xây dựng tỉnh Thái Bình.
- Chỉ rõ 4 điểm nghẽn thực tiễn: Lạm dụng KTTC, định mức theo kinh nghiệm, phân bổ chi phí SXC méo mó và thiếu vắng công cụ kiểm soát chiến lược khâu R&D.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ từ xác định nội dung chi phí, hoàn thiện kỹ thuật lập dự toán linh hoạt, ứng dụng ABC, thiết lập trung tâm trách nhiệm đến phân tích CVP và EOQ.
- Thiết lập lộ trình thực thi khả thi và kiến nghị các điều kiện phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý Nhà nước tỉnh Thái Bình và cộng đồng doanh nghiệp sản xuất gốm sứ.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về kế toán quản trị phát triển bền vững và chuyển đổi số trong quản trị chi phí ngành sản xuất vật liệu công nghiệp.