Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. GIAO THÔNG NÔNG THÔN VÀ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. Khái niệm, đặc điểm của giao thông nông thôn 1. Khái niệm giao thông nông thôn Giao thông là tất cả các hoạt động, hình thức di chuyển, đi lại được thực hiện một cách công khai bao gồm người đi bộ, người điều khiển phương tiện xe cơ giới, các phương tiện giao thông công cộng, xe máy, ô tô, tàu điện ngầm hay các phương tiện giao thông công cộng, xe dùng sức kéo…tham gia đơn lẻ hoặc cùng nhau.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Giao thông là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở” [29, tr. Hàng ngày, con người luôn có nhu cầu đi lại và di chuyển hàng hóa. Để có thể vận chuyển hàng hóa và đi lại được nhanh chóng và thuận tiện thì bên cạnh việc tạo ra các phương tiện chuyên chở như: ô tô, xe máy, xe đạp…, con người còn xây dựng lên các công trình như: đường sá, bến xe, bãi đỗ xe…để cho các phương tiện này có thể đi lại một cách thuận lợi và an toàn. Các công trình này chính là những công trình kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ. Trong đó giao thông nông thôn là một bộ phận của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ [51]. Theo thông tư số 32/2014/TT-BGTVT ngày 08/08/2014 của Bộ Giao thông Vận tải hướng dẫn về quản lý, vận hành khai thác đường giao thông nông thôn thì giao thông nông thôn bao gồm: Đường trục xã, đường liên xã, đường trục thôn, đường trong ngõ xóm và các điểm dân cư tương đương, đường trục chính nội đồng. 14 Như vậy, có thể hiểu: Giao thông nông thôn là bộ phận cấu thành của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật như: Đường trục xã, đường liên xã, đường trục thôn, đường trong ngõ xóm và các điểm dân cư tương đương, đường trục chính nội đồng được con người xây dựng lên nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người ở khu vực nông thôn.
Các loại đường giao thông nông thôn Nguồn: Cục đường bộ Việt Nam 1. Đặc điểm của giao thông nông thôn - Giao thông nông thôn là hàng hóa công cộng không thuần túy. Theo Kinh tế học công cộng, hàng hóa công cộng là hàng hóa có hai đặc tính cơ bản. Một là nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và hai là người ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần [44, tr.
Xét trên giác độ tiêu dùng thì đặc tính không thể phân bổ theo khẩu phần là hàng hóa đã cung cấp cho người này tiêu dùng thì không thể loại trừ người kia tiêu dùng, hoặc có loại trừ được người kia là rất khó và tốn kém. Đặc tính không muốn phân biệt theo khẩu phần là việc một cá nhân đang tiêu dùng hàng hóa này thì không thể ngăn cản những người khác đồng thời cũng tiêu dùng nó trong cùng một thời điểm, tức là khi người kia tiêu dùng sẽ không làm tăng thêm chi phí để cung cấp hàng hóa này. Ví dụ như một con đường giao thông nông thôn thì tất cả mọi người đều có thể đi lại và được 15 hưởng giá trị sử dụng nó như nhau. Đặc tính này cho thấy người ta không muốn loại trừ bất kỳ ai tiêu dùng hàng hóa công cộng.
Căn cứ vào hai đặc tính trên, người ta có thể phân chia hàng hóa công cộng thành hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy. Hàng hóa công cộng thuần túy là hàng hóa có đầy đủ hai đặc tính nêu trên và hàng hóa công cộng không thuần túy là hàng hóa không đáp ứng một cách chặt chẽ hai đặc tính đó, hoặc thiếu một trong hai đặc tính trên. Nghiên cứu về giao thông nông thôn thì đặc tính không muốn phân biệt theo khẩu phần thể hiện rất rõ, khi một con đường giao thông nông thôn được xây dựng xong và đưa vào sử dụng thì tất cả mọi người đều có quyền tiếp nhận, khai thác và sử dụng chúng với mức chi phí tương tự với mức chi phí sản xuất cho một người dùng, không phụ thuộc vào người đó tiêu dùng và đóng góp vào việc xây dựng con đường đó ít hay nhiều. Đặc tính không thể phân bổ theo khẩu phần cho thấy khi đường giao thông nông thôn được hoàn thành và đưa vào sử dụng thì mọi người đều có quyền tiêu dùng, không ai có quyền ngăn cản người khác tiêu dùng, người này sử dụng thì nó hoàn toàn không loại trừ người khác sử dụng.
Mọi người khi tham gia giao thông đều độc lập với nhau, không phụ thuộc vào sự có mặt hay không có mặt của người kia. Tuy nhiên, tính không thể phân bổ theo khẩu phần của hàng hóa công cộng giao thông nông thôn không rõ ràng chặt chẽ. Ví dụ, đường giao thông nông thôn mà có quá đông người sử dụng cùng một lúc thì sẽ bị tắc đường, vì thế người tiêu dùng trước làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của người tiêu dùng sau. Như vậy, có thể rút ra kết luận: Giao thông nông thôn là hàng hóa công cộng không thuần túy.
Đặc tính công cộng của giao thông nông thôn hay mức độ tham gia giao thông khác nhau cho phép người ta chia đường giao thông nông thôn thành các cấp độ đường khác nhau như: Đường cấp A, đường cấp B, đường cấp C, đường 16 cấp D…, tương ứng với mỗi cấp độ đường khác nhau có thiết kế khác nhau để phục vụ nhu cầu giao thông khác nhau, chi phí xây dựng khác nhau. Do đó cần phải phân cấp quản lý, phân cấp quyết định đầu tư và phân cấp chi NSNN để đầu tư và quản lý chi ngân sách phù hợp với từng loại đường. Căn cứ vào đặc tính của GTNT là hàng hóa công cộng không thuần túy cho phép các cơ quan quản lý tính toán xem hàng hóa công cộng này do nhà nước hay tư nhân cung cấp? Nếu xét về mặt chi phí xây dựng GTNT và lợi ích về mặt kinh tế - xã hội mà GTNT mang lại, thì GTNT có lợi ích lớn hơn chi phí tạo ra nó, vì thế cần thiết phải xây dựng GTNT cho xã hội sử dụng. Nhưng, nếu tư nhân đầu tư xây dựng đường GTNT cho xã hội sử dụng thì việc thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận thông qua thu phí là rất khó.
Kết quả là tư nhân không đầu tư và thị trường sẽ bị thất bại. Do đó, nhà nước phải đầu tư xây dựng GTNT cho nhân dân đi lại. Nhưng, câu hỏi đặt ra tiếp theo là nhà nước đầu tư toàn bộ để xây dựng đường GTNT hay huy động một phần sự đóng góp từ xã hội? Về nguyên lý thì ai là người được hưởng lợi thì phải trả tiền. Xã hội là người được hưởng lợi thì trách nhiệm đầu tư thuộc về nhà nước phải chi bằng tiền NSNN, người dân tại địa phương được hưởng lợi thì họ phải trả tiền, doanh nghiệp được hưởng lợi thì doanh nghiệp phải đóng góp để xây dựng GTNT.
Tuy nhiên, hàng hóa công cộng không thuần túy là những hàng hóa thường có phạm vi ảnh hưởng rất là rộng, vì vậy rất khó thu tiền của người hưởng lợi. Đối với GTNT thì vấn đề đặt ra là có nên thu phí trực tiếp hay không. Nếu đặt trạm thu phí thì chi phí sẽ rất đắt đỏ cho xã hội vì người nông dân qua lại trạm thu phí nhiều, có thể sẽ vấp phải sự kháng cự của người dân, tốn rất nhiều chi phí cho xã hội trong việc ngăn cản người dân đi qua mà không trả tiền. Hơn nữa, quyền của người dân ở nơi cư trú là phải được đi lại.
Do đó, tốt hơn hết là đường GTNT không thu phí. Nhưng, nếu không thu phí thì câu hỏi đặt ra là người dân ở địa phương, khu phố có đường GTNT đi qua 17 là người hưởng lợi là chính thì ai là người trả tiền?. Về nguyên lý thì ai là người hưởng lợi thì sẽ phải trả tiền, nhưng nếu không đặt trạm thu phí thì thu tiền thế nào?. Nên tốt hơn hết là thu tiền đóng góp ngay từ đầu từ những người hưởng lợi là chính là người dân và doanh nghiệp tại địa phương.
Khi nghiên cứu về giao thông nông thôn cho thấy, dưới giác độ tiêu dùng, sản phẩm của lĩnh vực giao thông nông thôn không những không bị tiêu dùng mất đi, mà ngược lại chúng luôn được đổi mới, duy tu, sửa chữa. tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người tham gia giao thông. Từ những đặc tính của giao thông nông thôn là hàng hóa công cộng không thuần túy trên đây, có thể rút ra một số nhận xét như sau: Một là, nghĩa vụ của người sử dụng sản phẩm của lĩnh vực giao thông nông thôn. Khi sử dụng sản phẩm, người sử dụng được hưởng các hàng hoá dịch vụ công cộng do lĩnh vực giao thông nông thôn cung cấp.
Người được hưởng lợi phải trả tiền là nguyên lý thông thường của kinh tế học thị trường. Xã hội là người được hưởng lợi thì trách nhiệm đầu tư thuộc về nhà nước phải chi bằng tiền NSNN, người dân tại địa phương được hưởng lợi thì họ phải trả tiền, doanh nghiệp được hưởng lợi thì doanh nghiệp phải đóng góp để xây dựng GTNT. Phát triển giao thông nông thôn tạo điều kiện cho mọi người đi lại dễ dàng, an toàn hơn. Hầu hết các công trình GTNT đều được sử dụng nhằm phục vụ việc đi lại, buôn bán, giao lưu của tất cả người dân, tất cả các cơ sở kinh tế, dịch vụ.
Trong xây dựng đường GTNT, mỗi loại công trình khác nhau có những NLTC khác nhau từ tất cả các thành phần kinh tế, các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, không chỉ người dân đang sống hiện tại ở địa phương được hưởng lợi, mà các thế hệ sau này vẫn được hưởng những lợi ích đó. Điều này cho phép nhà nước và các địa phương có thể huy động NLTC dưới hình thức vay và trả nợ từ các tổ chức và cá nhân bằng phát hành công trái quốc gia hoặc trái phiếu đầu tư địa phương. 18 Hai là, trong phát triển giao thông nông thôn thì nhà nước phải giữ vai trò là người chủ đạo.
Vì: - Xã hội là người hưởng lợi là chính nên trách nhiệm đầu tư thuộc về nhà nước.