Luận án tiến sĩ hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá riềng ấm lên tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch của trẻ em 3659 tháng tuổi dân tộc thái tại thành phố sơn la tỉnh sơn la

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá riềng ấm lên tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Viện Dinh Dưỡng

Chuyên ngành

Dinh Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Suy dinh dưỡng

1.2. Nguyên nhân suy dinh dưỡng

1.3. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo chỉ số Z-score

1.4. Tình trạng dinh dưỡng trẻ em thế giới

1.5. Tình trạng dinh dưỡng trẻ em Việt Nam

1.6. Các nghiên cứu can thiệp bổ sung vi chất dinh dưỡng cho trẻ em

1.7. Dinh dưỡng và nhiễm khuẩn ở trẻ em

1.8. Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em

1.9. Mối quan hệ giữa SDD và nhiễm khuẩn

1.10. Các nghiên cứu về bổ sung dinh dưỡng cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ em

1.11. Đặc điểm và các nghiên cứu về cây Riềng ấm

1.11.1. Đặc điểm của cây Riềng ấm

1.11.2. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của Alpinia zerumbet

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Cỡ mẫu và chọn mẫu

2.3.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp

2.4. Phương pháp thu thập số liệu và đánh giá các chỉ số/biến số nghiên cứu

2.4.1. Thu thập thông tin chung và thông tin về tình hình bệnh tật của trẻ

2.4.2. Thu thập số liệu và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ

2.4.3. Thu thập số liệu và đánh giá chỉ số huyết học, miễn dịch

2.4.4. Thu thập số liệu và đánh giá khẩu phần

2.4.5. Tình trạng nhiễm khuẩn (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp) của trẻ

2.5. Triển khai nghiên cứu

2.5.1. Thời gian can thiệp

2.5.2. Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu

2.5.3. Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu

2.5.4. Triển khai nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.5.5. Triển khai nghiên cứu can thiệp

2.5.6. Giám sát triển khai nghiên cứu can thiệp

2.6. Sản phẩm bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm

2.6.1. Thành phần của sản phẩm bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm

2.6.2. Kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm

2.6.3. Đánh giá mức độ chấp nhận sản phẩm

2.7. Xử lý và phân tích số liệu

2.8. Các biện pháp khống chế sai số

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 36-59 tháng tuổi tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

3.1.1. Thông tin chung về trẻ em nghiên cứu

3.1.2. Chỉ số nhân trắc trung bình của trẻ em nghiên cứu

3.1.3. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em nghiên cứu

3.2. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

3.2.1. Thông tin về trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái trước can thiệp

3.2.2. Đặc điểm khẩu phần của trẻ em 36-59 tháng tuổi

3.2.3. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

3.3. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến chỉ số miễn dịch và tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

3.3.1. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến chỉ số miễn dịch của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

3.3.2. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 36-59 tháng tuổi tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

4.2. Đặc điểm nhân trắc của trẻ em 36-59 tháng tuổi tại thành phố Sơn La

4.3. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

4.4. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến chỉ số nhân trắc của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

4.5. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tỷ lệ suy dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

4.6. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến nồng độ Hemoglobin và tỷ lệ thiếu máu của trẻ em nghiên cứu

4.7. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến chỉ số miễn dịch (IgG, IgM) và tình trạng nhiễm khuẩn (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp) của trẻ 36-59 tháng tuổi dân tộc Thái

4.8. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến chỉ số miễn dịch

4.9. Hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm đến tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ

4.10. Một số hạn chế trong quá trình triển khai nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch trẻ em dân tộc Thái tại Sơn La

Tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch của trẻ em dân tộc Thái tại Sơn La đang là một vấn đề cấp bách. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại tỉnh này vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở trẻ em dân tộc thiểu số. Việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng không chỉ giúp trẻ phát triển thể chất mà còn nâng cao sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc bệnh tật.

1.1. Tình hình dinh dưỡng trẻ em dân tộc Thái tại Sơn La

Trẻ em dân tộc Thái tại Sơn La thường gặp phải tình trạng suy dinh dưỡng do nhiều nguyên nhân như thiếu hụt dinh dưỡng, điều kiện sống khó khăn và thiếu kiến thức về dinh dưỡng. Theo nghiên cứu, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân lên tới 21,3%, trong khi tỷ lệ thấp còi là 34,3%.

1.2. Vai trò của miễn dịch trong sự phát triển của trẻ em

Miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em khỏi các bệnh tật. Trẻ em có tình trạng dinh dưỡng tốt thường có hệ miễn dịch mạnh mẽ hơn, giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nâng cao dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc Thái

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc Thái, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các yếu tố như điều kiện kinh tế, văn hóa và giáo dục ảnh hưởng lớn đến việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc Thái bao gồm thiếu hụt thực phẩm, thiếu kiến thức về dinh dưỡng và điều kiện sống không đảm bảo. Nhiều gia đình vẫn duy trì thói quen ăn uống không hợp lý, dẫn đến tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng.

2.2. Tác động của văn hóa và phong tục tập quán

Văn hóa và phong tục tập quán của người dân tộc Thái có thể ảnh hưởng đến thói quen ăn uống và chăm sóc sức khỏe. Việc thiếu thông tin và giáo dục về dinh dưỡng có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong việc chăm sóc trẻ.

III. Phương pháp cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc Thái

Để nâng cao tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch cho trẻ em dân tộc Thái, cần áp dụng các phương pháp can thiệp dinh dưỡng hiệu quả. Việc bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và sử dụng các sản phẩm tự nhiên như bột lá Riềng ấm đã được chứng minh là có hiệu quả.

3.1. Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng

Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em. Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung này giúp tăng cường sức đề kháng và cải thiện tình trạng dinh dưỡng tổng thể.

3.2. Sử dụng bột lá Riềng ấm trong chế độ ăn

Bột lá Riềng ấm chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học, giúp nâng cao sức khỏe và miễn dịch cho trẻ. Việc đưa bột lá Riềng ấm vào chế độ ăn hàng ngày có thể giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm nguy cơ mắc bệnh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp can thiệp dinh dưỡng có thể mang lại kết quả tích cực cho sức khỏe của trẻ em dân tộc Thái. Các chỉ số dinh dưỡng và miễn dịch của trẻ đã được cải thiện rõ rệt sau khi thực hiện các biện pháp này.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu can thiệp

Các nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em được bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá Riềng ấm có sự cải thiện rõ rệt về chỉ số dinh dưỡng và miễn dịch. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể sau can thiệp.

4.2. Ứng dụng các biện pháp can thiệp trong cộng đồng

Việc áp dụng các biện pháp can thiệp dinh dưỡng trong cộng đồng cần được thực hiện đồng bộ và liên tục. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng để nâng cao nhận thức và thực hiện các biện pháp này.

V. Kết luận và tương lai của dinh dưỡng trẻ em dân tộc Thái

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch cho trẻ em dân tộc Thái tại Sơn La là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các biện pháp can thiệp hiệu quả để đảm bảo sức khỏe cho thế hệ tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong phát triển trẻ em

Dinh dưỡng là yếu tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Việc đảm bảo dinh dưỡng hợp lý không chỉ giúp trẻ phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và tâm lý.

5.2. Hướng đi tương lai cho dinh dưỡng trẻ em dân tộc Thái

Trong tương lai, cần có nhiều chương trình nghiên cứu và can thiệp hơn nữa để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc Thái. Việc nâng cao nhận thức về dinh dưỡng và sức khỏe trong cộng đồng là rất cần thiết.

19/07/2025
Luận án tiến sĩ hiệu quả bổ sung đa vi chất dinh dưỡng và bột lá riềng ấm lên tình trạng dinh dưỡng và miễn dịch của trẻ em 3659 tháng tuổi dân tộc thái tại thành phố sơn la tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Suy dinh dưỡng 1. Khái niệm Các định nghĩa trước đây cho rằng, SDD là tình trạng cơ thể chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng, gây giảm năng lượng. Tất cả các chất dinh dưỡng đều có thể thiếu nhưng phổ biến nhất là thiếu protein và năng lượng.

Bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em [23]. SDD có ở tất cả các giai đoạn của cuộc đời, từ bào thai đến người lớn tuổi, trong điều kiện được coi là “dinh dưỡng trong suốt vòng đời” [24]. Tuy nhiên, gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm về SDD [1]: Suy dinh dưỡng là sự thiếu hụt, dư thừa hoặc mất cân bằng năng lượng hoặc chất dinh dưỡng của cơ thể. N ó bao gồm các mức độ dinh dưỡng thiếu hoặc thừa khác nhau, dẫn đến những thay đổi về thành phần cơ thể, chức năng cơ thể và kết quả lâm sàng.

N ói cách khác, suy dinh dưỡng là một thuật ngữ bao hàm tất cả các biểu hiện của dinh dưỡng kém và bao gồm từ đói cực độ và thiếu dinh dưỡng đến béo phì [25]. Thuật ngữ SDD bao gồm 2 nhóm tình trạng lớn. Một là “thiếu dinh dưỡng” - gồm thấp còi, gầy còm, nhẹ cân hoặc thiếu VCDD (thiếu các vitamin và khoáng chất quan trọng). Loại còn lại là thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống (như bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường và ung thư).

Việc phát hiện tình trạng thiếu dinh dưỡng và thừa cân, béo phì trong một đối tượng là khá phổ biến (như có thể vừa thừa cân vừa thiếu VCDD). Nguyên nhân suy dinh dưỡng Khung khái niệm của Quỹ N hi đồng Liên hợp quốc (UN ICEF) về suy dinh hưỡng cho bà mẹ và trẻ em (hình 3.1) đã được quốc tế công nhận để hiểu rõ các yếu tố quyết định về suy dinh dưỡng. Khung chia thành 3 cấp độ: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp và nguyên nhân cơ bản [23]. Mô hình nguyên nhân – hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em (Nguồn: UNICEF, 1997) N guyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD là khNu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về chất lượng và bệnh tật ở trẻ em.

6 N guyên nhân sâu xa (tiềm tàng) là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em; Kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế. N guyên nhân cơ bản (gốc rễ) dẫn đến thiếu dinh dưỡng đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính sách, tiềm năng của mỗi quốc gia. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo chỉ số Z-score Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [26]. Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.

Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phNm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử dụng thực phNm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai.

Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phNm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác [27]. Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em.

Đó là các chỉ số chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu… Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ. Theo đó, các số đo chiều cao, cân nặng của trẻ sẽ được sử dụng để tính toán các chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao [28]. Do trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng phát triển không khác nhau theo chủng tộc, nên Tổ chức Y tế Thế giới năm 1980 đã chọn 7 số liệu N CHS (N ational Center for Health Statistics) của Hoa Kì làm quần thể tham chiếu để so sánh. Tháng 4 năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức khuyến cáo sử dụng quần thể chuNn (WHO Child Growth Standards) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ, thay thế cho quần thể N CHS đã được sử dụng trước đó.

ChuNn mới mô tả sự phát triển bình thường của trẻ dưới điều kiện môi trường tối ưu và có thể sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ở bất kỳ nơi nào, bất kể dân tộc, tình trạng kinh tế xã hội và tập quán nuôi dưỡng [29]. Tại Việt N am, Viện Dinh dưỡng cũng đã khuyến cáo sử dụng quần thể chuNn 2006 này [30]. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng các chỉ số Z-scores để đánh giá TTDD ở trẻ. Z- score được tính bằng công thức [31]: Kích thước đo được trị số trung bình của quần thể Z score Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn N hư vậy ta có các chỉ số Z-score tương ứng với các chỉ số nhân trắc bao gồm chiều cao theo tuổi (Height for age Z-score - HAZ), cân nặng theo tuổi (Weight for age Z-score - WAZ), cân nặng theo chiều cao (Weight for length/height Z-score - WHZ).

Ba chỉ số này so sánh chiều cao, cân nặng của một trẻ với giá trị trung bình của quần thể chuNn được nuôi dưỡng tốt cùng tuổi và cùng giới. Chỉ số HAZ được sử dụng để đo lường tình trạng SDD mạn tính ở trẻ. Chỉ số WHZ sử dụng để đo lường SDD cấp tính ở trẻ và chỉ số này có thể thay đổi rất nhanh. Chỉ số WAZ bị ảnh hưởng bởi SDD cấp tính và mạn tính.

Một trẻ được coi là SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gầy còm khi các chỉ số Z-score tương ứng WAZ, HAZ, WHZ dưới -2 [29], [31]. - Cân nặng theo tuổi (WAZ): là chỉ số được dùng sớm và phổ biến nhất. Trẻ có WAZ thấp là trẻ bị SDD chung, không phân được SDD mạn tính hay cấp tính, trường hợp này còn được gọi là trẻ nhẹ cân (Underweight). - Chiều cao theo tuổi (HAZ): phản ánh sự tăng trưởng về chiều cao, HAZ thấp chỉ sự thiếu sức khỏe hay thiếu dinh dưỡng đã kéo dài và tích lũy.

Trẻ có HAZ thấp gọi là trẻ bị thấp còi (Stunting). - Cân nặng theo chiều cao (WHZ): phản ánh trọng lượng với chiều cao cơ thể, chỉ số này thấp là hậu quả của một quá trình cấp tính và nặng dẫn tới mất cân bằng đáng kể, thường là đói cấp tính hoặc bệnh nặng. Trẻ có WHZ thấp gọi là trẻ SDD cấp hay gầy còm (Wasting). Tình trạng dinh dưỡng trẻ em thế giới 1.

Tình trạng thiếu dinh dưỡng Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở trẻ em là một gánh nặng của thế giới, đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, gây ảnh hưởng không chỉ trong lĩnh vực sức khỏe mà còn trong mọi lãnh vực khác như kinh tế, xã hội [32]. N ăm 2020, theo thống kê của UN ICEF, WHO và N gân hàng Thế giới (WB), trên toàn cầu có khoảng có 144,0 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi, 47,0 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị gầy còm, trong đó 14,3 triệu trẻ bị SDD nặng. N hư vậy, SDD vẫn ở tình trạng báo động. Đặc biệt, SDD thể thấp còi giảm rất chậm và SDD thể gầy còm còn ảnh hưởng đến nhiều trẻ em.2 cho thấy, sự phân bố SDD thể thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới.

Có khoảng hơn 90% các trường hợp thấp còi sống ở châu Phi và châu Á. Trong số đó, có hơn một nửa trẻ thấp còi phân bố ở Châu Á (khoảng 78,2 triệu trẻ) và khoảng 2/5 phân bố ở Châu Phi (57,5 triệu) [33]. Tỷ lệ trẻ thấp còi vẫn còn chiếm ở mức rất cao trong cộng đồng (khu vực Đông Phi 34,5%, N am Á 31,7%, Trung Phi 31,5%). Phân bố trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi 2019 (Nguồn: UNICEF, WHO, WB, 2020) N guyên nhân được giải thích cho tỷ lệ SDD cao ở các khu vực trên vì SDD có liên quan chặt chẽ đến nghèo đói [34].

Tác động của nghèo đói đối với các cá nhân có thể được nhìn thấy qua nhiều biểu hiện, bao gồm tình trạng dinh dưỡng kém, mất an ninh lương thực, dễ bị bệnh tật, giảm năng suất, và sự phát triển thể chất và trí tuệ bị tổn hại. N goài ra, những người sống trong cảnh nghèo đói không thể tiếp cận các 9 nhu cầu thiết yếu bao gồm thực phNm dinh dưỡng, môi trường hợp vệ sinh, nơi ở thích hợp và chăm sóc sức khỏe đầy đủ [35]. Do đó, sẽ không sai khi cho rằng, mặc dù SDD là một hiện tượng toàn cầu, nhưng những người sống trong cảnh nghèo đói phải đối mặt với gánh nặng cao hơn. Một nghiên cứu khác đã xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng thấp còi ở trẻ là: trình độ học vấn của mẹ thấp, giới tính nam, hộ nghèo, thời gian cho con bú kéo dài, trẻ nhẹ cân, tuổi của mẹ (<20 tuổi), nguồn nước uống (không được cải thiện), chỉ số BMI (Body Mass Index - chỉ số khối cơ thể) của mẹ thấp (<18,5), tình trạng tiêu chảy, trình độ học vấn và nơi ở của người cha thấp (khu vực nông thôn) [36].

Xu hướng suy giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi giai đoạn 2000-2019 (Nguồn: UNICEF, WHO, WB, 2020) Hình 1.3 cho thấy sự suy giảm tỷ lệ thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới kể từ năm 2000 cho đến 2019.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ