Đổi mới chương trình giáo dục thể chất trong đào tạo sinh viên mầm non tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2

Đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên mầm non tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển toàn diện kỹ năng cho giáo viên tương lai.

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

298
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Đổi mới chương trình giáo dục thể chất

Đổi mới chương trình giáo dục thể chất là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Luận án của Nguyễn Thị Hà tập trung vào việc cải tiến chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2. Mục tiêu chính là nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên thông qua việc cập nhật nội dung và phương pháp giảng dạy. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới chương trình để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nâng cao chất lượng giáo dục.

1.1. Căn cứ đổi mới chương trình

Căn cứ đổi mới chương trình dựa trên các yêu cầu thực tiễn và định hướng của Đảng và Nhà nước về giáo dục. Luận án chỉ ra rằng, giáo dục thể chất trong đào tạo giáo viên mầm non cần được cải tiến để phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại. Các yếu tố như tính pháp lý, mục tiêu, thực tiễn, khả thi và hiệu quả được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo chương trình mới có thể áp dụng thành công.

1.2. Định hướng đổi mới

Định hướng đổi mới chương trình tập trung vào việc nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên. Luận án đề xuất việc cập nhật nội dung giảng dạy, phương pháp đào tạo và yêu cầu kiểm tra đánh giá. Giáo dục thể chất hiện đại cần được tích hợp vào chương trình đào tạo để sinh viên có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn giảng dạy tại các trường mầm non.

II. Giáo dục thể chất cho sinh viên mầm non

Giáo dục thể chất cho sinh viên mầm non là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2. Luận án của Nguyễn Thị Hà phân tích thực trạng giáo dục thể chất trong đào tạo sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non, chỉ ra những hạn chế và đề xuất giải pháp cải tiến. Mục tiêu là giúp sinh viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết để tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non.

2.1. Thực trạng giáo dục thể chất

Thực trạng giáo dục thể chất trong đào tạo sinh viên mầm non tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2 được đánh giá là chưa đồng bộ và thiếu hiệu quả. Luận án chỉ ra rằng, sinh viên được học hai chương trình giáo dục thể chất với mục tiêu khác nhau, dẫn đến sự thiếu nhất quán trong việc trang bị kiến thức và kỹ năng. Điều này ảnh hưởng đến năng lực triển khai hoạt động giáo dục thể chất của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

2.2. Nhu cầu đổi mới

Nhu cầu đổi mới chương trình giáo dục thể chất được đặt ra để khắc phục những hạn chế hiện tại. Luận án đề xuất việc tích hợp các phương pháp giáo dục thể chất hiện đại vào chương trình đào tạo, giúp sinh viên có thể áp dụng linh hoạt trong thực tiễn giảng dạy. Nâng cao chất lượng giáo dục là mục tiêu chính của việc đổi mới này.

III. Phương pháp giáo dục thể chất hiện đại

Phương pháp giáo dục thể chất hiện đại là một trong những trọng tâm của luận án. Nguyễn Thị Hà đề xuất việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến để nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên mầm non. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng công nghệ, tăng cường thực hành và đánh giá kết quả học tập một cách toàn diện.

3.1. Phương pháp giảng dạy

Phương pháp giảng dạy được đề xuất trong luận án bao gồm việc sử dụng các bài tập vận động, trò chơi và hoạt động ngoài trời để phát triển thể chất cho trẻ mầm non. Giáo dục thể chất hiện đại cần được tích hợp vào chương trình đào tạo để sinh viên có thể áp dụng linh hoạt trong thực tiễn giảng dạy.

3.2. Đánh giá kết quả

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một phần quan trọng trong quá trình đổi mới chương trình. Luận án đề xuất việc sử dụng các tiêu chí đánh giá toàn diện, bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên. Nâng cao chất lượng giáo dục là mục tiêu chính của việc đổi mới này.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học đổi mới chương trình giáo dục thể chất trong đào tạo sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non trường đại học sư phạm hà nội 2 theo hướng nâng cao năng lự

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Đối với nền giáo dục Quốc dân, GDMN có một vị trí đặc biệt quan trọng nhằm: “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”; là khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững đối với nguồn nhân lực có chất lượng cao của xã hội hiện đại [93]. Khác với cấp học khác, trẻ Mầm non đến trường để được học, được dạy dỗ không thông qua chữ viết và các phép tính; GV dạy học không thông qua phấn và bảng. Vì thế, đào tạo GVMN là một loại hình đào tạo đặc biệt trong hệ thống đào tạo của các nhà trường Sư phạm. SV được đào tạo kiến thức và kỹ năng nuôi và chăm sóc trẻ; kiến thức và kỹ năng giáo dục trẻ những hiểu biết ban đầu về tự nhiên và xã hội, về âm nhạc và hội họa; kiến thức và kỹ năng tổ chức cho trẻ vui chơi và hoạt động.

Do đó, năng lực hoạt động nghề nghiệp của người GVMN là một loại hình năng lực đặc biệt, được cấu thành từ nhiều năng lực chuyên biệt khác nhau. Quá trình đào tạo mỗi năng lực chuyên biệt đó đều hướng về tính nghề, mang đặc trưng của hoạt động đào tạo nghề. GDTC cho trẻ không chỉ là năng lực dạy trẻ mà còn là năng lực giáo dục và chăm sóc trẻ của GVMN. Trong nhà trường Mầm non, mục tiêu và hoạt động GDTC được diễn ra hàng ngày, dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau: Trò chơi, trò chơi vận động, hoạt động vận động ngoài trời, các bài tập vận động cơ bản, các bài tập rèn luyện thể lực và tư thế, tác phong.

Có thể nói, GDTC là nội dung cơ bản của hoạt động giáo dục trong các nhà trường. Do đó, kiến thức và kỹ năng về GDTC là một trong những điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp của người GVMN. Tính đến năm 2014, cả nước có 34 trường ĐHSP và khoa Sư phạm trong các trường đại học đa ngành, 42 trường CĐSP và khoa Sư phạm đảm nhiệm 2 công tác đào tạo GVMN. Đào tạo năng lực tiến hành hoạt động GDTC cho trẻ Mầm non là một nội dung cơ bản thuộc chương trình đào tạo GV loại hình này của hệ thống các nhà trường Cao đẳng và ĐHSP [33].

Xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực của người GVMN. Trước hết, đó phải là nhà giáo dục, một công dân gương mẫu, có tư cách đạo đức, có lối sống lành mạnh, hăng hái tham gia vào sự phát triển cộng đồng. GVMN không chỉ đóng vai trò nuôi và dạy trẻ, mà còn là người tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ, giúp trẻ nhận thức về thế giới quan, bước đầu cung cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năng sống đầu đời, dạy cho trẻ những kỹ năng vận động cơ bản. Giáo dục đạt chất lượng cao được coi là linh hồn của xã hội tri thức, là công cụ tạo ra sự phát triển bền vững và chất lượng của đội ngũ GV chính là yếu tố quyết định làm nên điều đó.

Thực tiễn giáo dục Việt Nam đã chứng minh: Chất lượng chuyên môn của đội ngũ GV luôn gắn liền với chất lượng đào tạo của các nhà trường Sư phạm; đổi mới và chất lượng đổi mới giáo dục là hệ quả, là sản phẩm trực tiếp của đổi mới trong đào tạo của các nhà trường Sư phạm. Chính vì lẽ đó, trước những yêu cầu của quá trình phát triển xã hội, đổi mới và nâng cao hiệu quả đào tạo của các nhà trường Sư phạm là một tất yếu khách quan, là động lực quan trọng để tạo ra hiệu quả đối với toàn bộ hệ thống GDMN. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [13]. Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống các nhà trường Sư phạm luôn gắn liền với đổi mới chương trình đào tạo theo hướng khoa học và hiện đại, là biểu hiện cao nhất những giá trị cốt lõi về năng lực nghề nghiệp mà 3 người GVMN tương lai phải đạt được, là bước chuyển hóa quan trọng giữa nhu cầu thực tiễn giáo dục với khả năng đáp ứng của cơ sở đào tạo.

Trước thực tiễn chất lượng, hiệu quả GD&ĐT còn thấp so với yêu cầu, năm 2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nhằm “tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT; xây dựng một nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”. Đó cũng chính là định hướng quan trọng trong đào tạo loại hình GVMN của các nhà trường Sư phạm nói chung, của Trường ĐHSP Hà Nội 2 nói riêng [16]. Thực tiễn đào tạo năng lực triển khai hoạt động GDTC cho GVMN của Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã bộc lộ một số hạn chế cơ bản: Chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo thiếu đồng bộ, thiếu hiệu quả. Cùng một thời điểm, SV được học hai chương trình GDTC hướng tới hai mục tiêu hoàn toàn độc lập, một chương trình nhằm phát triển thể chất, một chương trình nhằm trang bị phương pháp GDTC cho trẻ Mầm non.

Nội dung GDTC không hướng tới trang bị cho SV kỹ năng thực hiện nội dung GDTC, kỹ năng thực hiện và sử dụng các bài tập vận động nhằm phát triển thể chất cho trẻ. Chính điều đó đã hạn chế đáng kể tính toàn diện và hiệu quả của môn học; hạn chế năng lực triển khai hoạt động GDTC của giáo viên trong thực tiễn GDMN. Vì vậy, tích hợp hai nội dung GDTC nêu trên, đồng thời giải quyết hai mục tiêu: Vừa phát triển thể chất, vừa trang bị cho SV kiến thức và kỹ năng giảng dạy môn học GDTC tại các nhà trường Mầm non là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa góp phần nâng cao năng lực hoạt động nghề nghiệp cho SV khi ra trường. Đó là quá trình gắn GDTC với quá trình đào tạo nghề, hiện thực hóa định hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong lĩnh vực đào tạo GVMN.

4 Với lí do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đổi mới chương trình Giáo dục Thể chất trong đào tạo sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 theo hướng nâng cao năng lực nghề nghiệp”. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tích hợp hai chương trình: GDTC thuộc khối kiến thức chung và GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo chuyên ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2 thành “Chương trình GDTC theo định hướng nghề nghiệp”, nhằm đồng thời nâng cao hiệu quả GDTC và hiệu quả trang bị cho SV kiến thức, kỹ năng triển khai hoạt động GDTC cho trẻ Mầm non. Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định 2 mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1. Nghiên cứu thực trạng GDTC trong đào tạo SV chuyên ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2.

Đổi mới chương trình GDTC trong đào tạo SV chuyên ngành GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 theo hướng nâng cao năng lực nghề nghiệp và đánh giá hiệu quả đổi mới. Giả thuyết khoa học của đề tài GDTC thuộc khối kiến thức chung và GDTC thuộc khối kiến thức nghiệp vụ trong đào tạo chuyên ngành GDMN của trường ĐHSP Hà Nội 2 chưa đạt yêu cầu, thiếu hiệu quả. Nguyên nhân cơ bản là do giữa 2 chương trình thiếu sự gắn kết và đồng bộ về mục tiêu, nội dung và tổ chức thực hiện. Nếu tích hợp 2 chương trình theo hướng: lấy tính nghề làm động lực để nâng cao hiệu quả GDTC, lấy nội dung GDTC để kết hợp trang bị cho SV kiến thức và kỹ năng triển khai hoạt động GDTC cho trẻ Mầm non, thì những hạn chế nêu trên sẽ cơ bản được khắc phục.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC THEO HƯỚNG CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN 1. Đào tạo giáo viên ở Việt Nam – quá trình hình thành và phát triển Để đáp ứng yêu cầu về đội ngũ GV cho nền giáo dục của một Nhà nước non trẻ, năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập ngành Sư phạm, nhằm: “Đào tạo những nam nữ GV cho các bậc học cơ bản, THPT, trung học chuyên khoa, thực nghiệm và chuyên nghiệp trong toàn quốc”. Sắc lệnh đã chỉ rõ: “Bắt đầu từ năm 1950 chỉ tuyển nam nữ GV cho các bậc học phổ thông và chuyên nghiệp trong những người có bằng Sư phạm Sơ cấp, Trung cấp hoặc Cao cấp” [77].

Như vậy, chất lượng chuyên môn của nhà giáo và đặc trưng đào tạo của nhà trường Sư phạm đã được xác định ngay từ những ngày đầu của chính quyền Cách mạng – tất cả GV được tuyển dụng cho các nhà trường phổ thông và chuyên nghiệp đều phải qua đào tạo ở các nhà trường Sư phạm. Bằng hình thức đào tạo ngắn hạn và dài hạn, từ năm 1950 đến năm 1954, các trường CĐSP Việt Bắc, Sư phạm trung cấp thuộc Liên Khu 3 và Liên Khu 4 đã đào tạo được 2500 GV cấp 1, hơn 800 GV cấp 2 và trên 40 GV cấp 3 [22], [26]. Sau ngày miền Bắc được giải phóng và trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các cơ sở đào tạo GV không ngừng được mở rộng qui mô đào tạo, hàng năm cung cấp hàng chục ngàn GV cho các nhà trường cấp 1 và cấp 2; số lượng GV được đào tạo tăng lên qua từng năm học (năm học 1965 – 1966 đào tạo được 19.000 GV, năm học 1969 – 1970 tăng lên 93.000 GV – trong 5 năm tăng gấp 5 lần). Đến năm 1991, số lượng trường TCSP chiếm hơn 1/5 tổng số trường trung cấp trong toàn quốc, trong 45 trường cao đẳng có 38 trường CĐSP; trong 6 56 trường đại học của cả nước, có 9 trường ĐHSP.

Số lượng SV trong các trường CĐSP và ĐHSP chiếm 37% số lượng SV toàn quốc [22], [26]. Từ năm 2014 đến nay, cả nước có 34 trường ĐHSP, 42 trường CĐSP và khoa Sư phạm đào tạo GV cho tất cả các bậc học từ Mầm non đến THPT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên mầm non tại ĐH Sư phạm Hà Nội 2" trình bày những cải cách cần thiết trong chương trình giáo dục thể chất dành cho sinh viên ngành mầm non. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, không chỉ giúp sinh viên phát triển thể lực mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để giảng dạy cho trẻ em sau này. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về phương pháp giảng dạy hiện đại, cũng như các chiến lược để cải thiện chương trình học, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án quản lý đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên các trường đại học ở việt nam hiện nay, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về việc đánh giá kết quả rèn luyện sinh viên. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao trường đại học thể dục thể thao bắc ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chương trình đào tạo thể thao hiện tại. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật trong tài liệu Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn võ thuật công an nhân dân cho sinh viên hệ đào tạo tại học viện an ninh nhân dân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục thể chất và các phương pháp giảng dạy hiệu quả.