Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao trường đại học thể dục thể thao bắc ninh

Luận án tiến sĩ đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh, phân tích hiệu quả và đề xuất cải tiến.

Chuyên ngành

Giáo dục thể chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

224
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Đặt vấn đề

Chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cho ngành thể thao. Đánh giá chương trình đào tạo không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc nâng cao chất lượng đào tạo là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, đồng thời đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Việc đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao sẽ giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu, từ đó đưa ra các giải pháp cải tiến cần thiết.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá thực trạng chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phân tích nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, và chất lượng đội ngũ giảng viên. Đặc biệt, nghiên cứu sẽ khảo sát ý kiến phản hồi từ cựu sinh viên và người sử dụng lao động để đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho việc cải tiến chương trình đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập và phân tích dữ liệu. Phương pháp phỏng vấn được áp dụng để thu thập ý kiến từ giảng viên, sinh viên và người sử dụng lao động. Phương pháp khảo sát xã hội học cũng được sử dụng để đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình đào tạo. Ngoài ra, phương pháp phân tích tài liệu giúp tổng hợp các thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn về chương trình đào tạo. Việc sử dụng các phương pháp này sẽ đảm bảo tính chính xác và khách quan trong việc đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm sinh viên đang theo học và cựu sinh viên ngành huấn luyện thể thao tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ khảo sát ý kiến của giảng viên và người sử dụng lao động trong lĩnh vực thể thao. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu đa dạng sẽ giúp thu thập được nhiều góc nhìn khác nhau về chất lượng chương trình đào tạo. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn về thực trạng chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh có nhiều điểm mạnh, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế. Chương trình đã đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường lao động, tuy nhiên, vẫn cần cải thiện về nội dung và phương pháp giảng dạy. Đặc biệt, việc cập nhật kiến thức mới và kỹ năng thực hành cho sinh viên cần được chú trọng hơn. Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên và người sử dụng lao động đều mong muốn chương trình đào tạo có sự đổi mới để phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.

3.1. Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo

Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo cho thấy rằng nội dung chương trình còn thiếu tính thực tiễn và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người sử dụng lao động. Nhiều sinh viên cho rằng họ chưa được trang bị đủ kỹ năng cần thiết để làm việc trong môi trường thể thao chuyên nghiệp. Hơn nữa, chất lượng giảng dạy của một số giảng viên cũng cần được nâng cao để đảm bảo sinh viên nhận được kiến thức và kỹ năng tốt nhất. Việc cải tiến chương trình đào tạo là cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành thể thao.

IV. Đề xuất giải pháp

Để nâng cao chất lượng chương trình đào tạo cử nhân ngành huấn luyện thể thao, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần cập nhật nội dung chương trình đào tạo theo hướng thực tiễn hơn, bao gồm việc bổ sung các môn học mới và cải tiến phương pháp giảng dạy. Thứ hai, cần tăng cường đào tạo kỹ năng thực hành cho sinh viên thông qua các hoạt động ngoại khóa và thực tập tại các cơ sở thể thao. Cuối cùng, cần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với các tổ chức thể thao để đảm bảo chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

4.1. Cải tiến nội dung chương trình

Cải tiến nội dung chương trình đào tạo là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Cần thiết phải xem xét lại các môn học hiện tại và bổ sung các môn học mới phù hợp với xu hướng phát triển của ngành thể thao. Việc này không chỉ giúp sinh viên có kiến thức vững vàng mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để làm việc hiệu quả trong môi trường thể thao chuyên nghiệp. Hơn nữa, việc thường xuyên cập nhật nội dung chương trình sẽ giúp sinh viên tự tin hơn khi ra trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng lao động.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1. Quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục và đào tạo 1. Quan điểm chỉ đạo về công tác giáo dục đào tạo Giáo dục đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi Quốc gia, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước.

Vì vậy, ngay từ khi mới giành được chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Đảng và Nhà nước ta xác định GD&ĐT là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam [1]. Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT đã được Đại hội Đảng lần thứ VII xem là quốc sách hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Phải coi đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển KTXH. Huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân giúp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước [2]. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định một lần nữa vai trò quan trọng của khoa học công nghệ và GD&ĐT: Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. Coi trọng cả 3 mặt của GD: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH.

Đổi mới hệ thống GD chuyên nghiệp và ĐH, kết hợp ĐT với nghiên cứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến [3]. Đại hội Đảng lần thứ IX cũng nêu rõ: Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý GD; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá [4]. Vấn đề GD&ĐT một lần nữa lại được Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: GD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy 8 CNH - HĐH đất nước [7]. Bên cạnh đó Đảng ta đã chỉ ra những mặt yếu kém về GD&ĐT như: Chất lượng GD còn nhiều yếu kém, khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên (HSSV) ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của HSSV còn yếu.

Chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề, chưa thật phù hợp. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế với quan điểm chỉ đạo [8]: Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.

Phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội. Luận án nhận định quan điểm chỉ đạo Đảng, Nhà nước về công tác phát triển GD&ĐT được chỉ đạo xuyên suốt trong các kỳ Đại hội Đảng và được coi là quốc sách hàng đầu; Coi trọng cả 3 mặt của GD: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH; Tại Đại hội Đảng IX tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý GD; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; và đặc biệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 9 Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế [8].

Luận án tiếp thu những quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GD&ĐT làm nền tảng cho việc đánh giá chương trình đào tạo cử nhân ngành HLTT. Mục tiêu và các giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 Trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam không còn là sân chơi riêng của các cơ sở ĐT nói chung và các trường ĐH Việt Nam nói riêng, sẽ có nhiều trường đại học, cao đẳng nước ngoài đăng kí hoạt động ở nước ta. Chúng ta muốn đi lên, muốn hội nhập, các trường ĐH, cao đẳng, các cơ sở GD của Việt Nam phải chấp nhận sức cạnh tranh, phải nâng cao năng lực quản lý của mình, phải nâng tầm đào tạo nguồn nhân lực của ta ngang bằng chất lượng ĐT của các nước trong khu vực và thế giới. Trong bối cảnh hội nhập đó nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp quy nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng GDĐH.

Trong đó có văn bản số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển GD giai đoạn (2011 - 2020) [85]. Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, nền GD nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng GD được nâng cao một cách toàn diện, gồm: GD đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH -HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng XH trong GD và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành XH học tập. Mục tiêu cụ thể cho GD nghề nghiệp và GDĐH: Hoàn thiện cơ cấu hệ thống GD nghề nghiệp và ĐH; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ ĐT, nâng cao chất lượng ĐT, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - XH; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới. 10 Luận án nhận thức rõ chiến lược phát triển GD&ĐT của Đảng và Nhà nước được thể hiện rất cụ thể thông qua văn bản số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển GD giai đoạn (2011 - 2020); với mục tiêu cụ thể đó là nền GD nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng GD được nâng cao một cách toàn diện, gồm: GD đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

Từ mục tiêu cụ thể của nền GD là cơ sở lý luận quan trọng giúp luận án định hướng trong việc xây dựng giải pháp hoàn thiện CTĐT cử nhân ngành HLTT. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác phát triển nguồn nhân lực 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực nói chung Khái niệm nguồn nhân lực: Theo tác giả Ngô Thắng Lợi thì nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong đó độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Về số lượng, đó là tổng số những người đang trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được họ… về chất lượng nguồn nhân lực đó là trình độ chuyên môn và sức khoẻ của người lao động [64, tr.

Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng về công tác phát triển nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chiến lược lâu dài mang tính bền vững như Theo quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 4 năm 2011, của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 với những mục tiêu [84]. Mục tiêu của chiến lược: Phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới. Mục tiêu cụ thể cần đạt được là: Nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, 11 phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm việc. Luận án thống nhất quan điểm đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá chương trình đào tạo cử nhân huấn luyện thể thao tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng và hiệu quả của chương trình đào tạo cử nhân trong lĩnh vực thể thao. Tác giả phân tích các yếu tố như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và sự hài lòng của sinh viên, từ đó đưa ra những nhận định quan trọng về khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về chương trình đào tạo này mà còn chỉ ra những điểm mạnh và điểm cần cải thiện, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục trong lĩnh vực thể thao.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của giáo dục và sự hài lòng của sinh viên, hãy tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ đánh giá sự hài lòng của học sinh trung học cơ sở huyện Châu Đức, nơi phân tích chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ khảo sát sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo tại trường đại học Khoa học Tự nhiên cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn tổng quan về sự hài lòng của sinh viên trong môi trường đại học. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ sự hài lòng về chất lượng đào tạo của sinh viên tại HCMUTE sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên trong các chương trình đào tạo khác nhau.