phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Công trình nghiên cứu ở trong nƣớc 1.
Về trí thức Ở Việt Nam, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, vấn đề bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người, đặc biệt nguồn lực trí tuệ - “hiền tài là nguyên khí quốc gia” là rất cần thiết, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt ra đối với toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân ta. Từ năm 1996 đến nay, những công trình thuộc nhóm vấn đề này được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đáng chú ý là một số công trình tiêu biểu sau: Phạm Tất Dong (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí thức. Những định hướng chính sách, thuộc chương trình KHXH.
Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam với tư cách là nguồn lực quan trọng, cơ bản để đào tạo nguồn nhân lực; vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực trạng đội ngũ trí thức và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước có chiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam để họ xứng đáng với vai trò là lực lượng nòng cốt, bộ phận tinh túy của nguồn nhân lực. Phan Thanh Khôi (2001), Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 [76]. Dựa trên sự phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức, tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Trong bài viết, tác giả đã làm rõ vai trò quan trong của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; trong việc xây dựng luận cứ khoa học bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; góp phần vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH. Trong số rất nhiều bài viết về trí thức, PGS.TS Phan Thanh Khôi có bài viết đánh dấu tầm quan trọng, ý nghĩa lý luận và tư tưởng sâu sắc không chỉ đối với đội 7 ngũ trí thức Việt Nam, mà còn chỉ ra trách nhiệm cao cả đặt lên vai người trí thức trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở nước ta. Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 3/2008 [80].
Qua bài viết, tác giả chỉ ra vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng luận cứ khoa học; bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Những thuộc tính cơ bản của trí thức còn được tác giả Phan Thanh Khôi đề cập và phân tích trên các khía cạnh: trí thức là người lao động trí óc, phức tạp, sản xuất giá trị tinh thần là chủ yếu; nội dung lao động của trí thức mang tính sáng tạo khoa học; tri thức và học vấn của trí thức cao hơn hẳn mặt bằng dân trí; hình thức lao động của trí thức có tính đặc thù cao như: mang tính cá nhân rõ nét, hoạt động trong không gian mở, thời gian linh hoạt, đòi hỏi lý trí cao, đặc điểm tâm lý lối sống cũng có tính khác biệt: nhạy cảm nhưng dễ dị ứng, kiêu hãnh nhưng dễ tự kiêu và có những nhược điểm nhất định. trong cuốn sách "Đội ngũ trí thức Việt Nam, quan niệm, thực trạng, phát huy vai trò và xu hướng biến đổi", Tài liệu tham khảo, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008 [79]. Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội [65].
Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của trí thức từ lịch sử đến hiện tại; phân tích thực trạng, một số vấn đề đang đặt ra đối với đội ngũ trí thức Việt Nam trong thế kỷ XXI; phương hướng phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam trong tình hình mới. Thông qua việc làm rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ, những phẩm chất trí tuệ và các yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ, tác giả đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm, vai trò của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Ngô Thị Phượng (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội [120]. Công trình đã phân tích rõ khái niệm trí thức KHXH&NV; vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước; quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
8 Nguyễn Công Trí (2007), Vận dụng quan điểm của V.Lênin về thực hiện chính sách đối với trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 [148]. Tác giả đã phân tích quan điểm của V.Lênin về thực hiện chính sách đối với trí thức trong cách mạng XHCN; những luận điểm về nhận thức và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đội ngũ trí thức. Dựa vào việc phân tích vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước, tác giả đã đưa ra mục tiêu phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và một số giải pháp để thực hiện được mục tiêu này. Bài viết đã đánh giá thực trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ trí thức quân đội nhân dân Việt Nam và vai trò của họ trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học quân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, bài viết đã đưa ra ba phương hướng thiết thực nhằm xây dựng đội ngũ trí thức quân đội ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện nghiêm túc công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức, phát huy năng lực sáng tạo của đội ngũ trong giảng dạy, nghiên cứu, ứng dụng trong khoa học quân sự nhằm xứng đáng là người trí thức Quân đội nhân dân Việt Nam “vừa hồng vừa chuyên”. Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước [106]. Tác giả đã nêu một số quan điểm mới về tiềm năng, tiềm năng của trí thức KHXH&NV; đồng thời cũng làm rõ những tiềm năng to lớn của đội ngũ này đối với sự phát triển xã hội. Từ đó, tác giả trình bày một số giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức KHXH&NV trong giai đoạn hiện nay.
Bùi Khắc Việt, Trí thức trẻ và sinh viên (trong nhánh đề tài Đề tài KX. Công trình đề cập đến trí thức trẻ trong các trường đại học, cao đẳng và sinh viên với tư cách là nguồn lực quan trọng bổ sung cho đội ngũ trí thức nói chung và trí thức nhà giáo ở các trường đại học nói riêng. Đề tài phân tích 9 những mặt tích cực, đồng thời nêu lên một số hạn chế, bất cập, nhất là về chất lượng của đội ngũ trí thức trẻ so với yêu cầu phát triển KT-XH ở Việt Nam. Đàm Đức Vượng, Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Mã số: KX.
Bên cạnh những vấn đề cơ bản về trí thức, đề tài đi sâu làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch và được đào tạo bài bản, chưa có sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, thiếu sự cộng lực để cùng thực hiện mục tiêu chung của đất nước. Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần quan trọng và có tính quyết định để thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2020. Nguyễn Khánh Bật - Trần Thị Huyền (đồng chủ biên) 2012, Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội [10]. Cuốn sách khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam.
Từ đó, các tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ trí thức trong giai đoạn 2010 - 2020. Nguyễn Thị Thơm (2012), Tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của đội ngũ trí thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11 [144]. Ngoài việc phân tích những đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra năm vấn đề chủ yếu nhằm tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của đội ngũ trí thức - lực lượng tinh túy của NNLCLC. Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), Trí thức và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 853 [26].
Bài viết chia làm ba phần lớn, thứ nhất, tác giả phân tích vai trò lao động trí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ; thứ hai, phân tích trách nhiệm của trí thức trong mọi thời đại; thứ ba, phân tích vai trò và trách nhiệm xã hội của trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cuối cùng tác giả kết luận: Trí thức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như họ ý thức rõ được trách nhiệm đó. Về giáo dục đại học và trí thức giáo dục đại học Phạm Văn Thanh (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên 10 ngành CNXH khoa học [140].