Luận án tiến sĩ về phương pháp điều trị bớt Ota bằng laser Q-Switched Alexandrite

Luận án tiến sĩ : điều trị bớt ota hiệu quả bằng laser q-switched alexandrite đóng góp lý thuyết mới, phương pháp độc đáo cho ngành công nghệ thông

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Da liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cấu trúc da và quá trình tạo sắc tố da

1.2. Cấu trúc da

1.3. Quá trình tạo sắc tố da

1.4. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bớt Ota

1.5. Lâm sàng và giải phẫu bệnh học của bớt Ota

1.6. Chẩn đoán bớt Ota

1.7. Các biện pháp điều trị bớt Ota

1.8. Khái niệm cơ bản về Laser và Laser QS Alexandrite

1.9. Lịch sử phát minh Laser. Cấu trúc và tính chất cơ bản của laser

1.10. Tương tác của tia laser với tổ chức sống

1.11. Laser QS Alexandrite

1.12. Các nghiên cứu về bớt Ota trên thế giới và Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Vật liệu nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu. Các bước tiến hành. Xử lý số liệu

2.5. Biện pháp khống chế sai số

2.6. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.7. Đạo đức nghiên cứu. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng bớt Ota. Một số đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp, địa dư của BN bớt Ota

3.2. Đánh giá hiệu quả điều trị bớt Ota bằng Laser Alexandrite

3.3. Một số đặc điểm của 35 bệnh nhân bớt Ota điều trị đủ liệu trình

3.4. Cải thiện về kích thước và màu sắc bớt Ota sau điều trị Laser

3.5. Liên quan giữa kết quả điều trị với tuổi bệnh nhân, màu sắc và vị trí tổn thương của bớt Ota

3.6. Tác dụng không mong muốn khi điều trị bớt Ota bằng Laser QS Alexandrite

3.7. Mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả điều trị

3.8. Biến đổi cấu trúc vi thể, cấu trúc siêu vi thể bớt Ota trước, trong, sau điều trị laser

3.9. Cấu trúc vi thể, siêu vi thể thượng bì bớt Ota trước, trong, sau điều trị Laser QS Alexandrite

3.10. Cấu trúc vi thể, siêu vi thể trung bì, hạ bì bớt Ota trước, trong, sau điều trị Laser QS Alexandrite

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về đặc điểm lâm sàng bớt Ota. Một số đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp, địa dư của BN bớt Ota. Các đặc điểm lâm sàng bớt Ota

4.2. Bàn luận về hiệu quả điều trị bớt Ota bằng Laser Alexandrite

4.3. Cải thiện về kích thước và sắc tố bớt Ota sau điều trị Laser

4.4. Về một số yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị bớt Ota

4.5. Về tác dụng không mong muốn khi điều trị

4.6. Về mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả điều trị

4.7. Về hình thái vi thể, siêu vi thể bớt Ota trước, trong, sau điều trị Laser

4.8. Về hình thái vi thể, siêu vi thể thượng bì bớt Ota trước, trong, sau điều trị Laser QS Alexandrite

4.9. Về vi thể, siêu vi thể trung bì, hạ bì bớt Ota trước, trong, sau điều trị Laser QS Alexandrite

4.10. Sự tương thích, phù hợp giữa kết quả điều trị bớt Ota trên lâm sàng với hình ảnh cấu trúc vi thể, siêu vi

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bớt Ota

Bớt Ota là một dạng bớt sắc tố bẩm sinh, được phát hiện lần đầu vào năm 1939. Bệnh thường xuất hiện dưới dạng các dát màu nâu, nâu tím hoặc xanh đen, chủ yếu ở vùng mặt, đặc biệt là vùng chi phối của dây thần kinh sọ số V. Tỷ lệ mắc bệnh này ở châu Á dao động từ 0,1-0,6%, trong khi ở châu Âu rất hiếm gặp. Nếu không được điều trị, bớt Ota có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến thẩm mỹ và tâm lý của người bệnh. Do đó, việc điều trị bớt Ota là rất cần thiết. Trước đây, các phương pháp điều trị như lột da hóa chất hay phẫu thuật cắt bỏ thường không hiệu quả và có thể để lại sẹo. Công nghệ laser, đặc biệt là laser Q-Switched Alexandrite, đã mở ra hướng đi mới trong điều trị bớt Ota với hiệu quả cao và ít biến chứng.

II. Công nghệ laser trong điều trị bớt Ota

Công nghệ laser đã trở thành một phương pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh sắc tố da, bao gồm bớt Ota. Laser Q-Switched Alexandrite là một trong những loại laser được sử dụng phổ biến nhất. Công nghệ này hoạt động dựa trên nguyên lý hấp thụ ánh sáng của melanin trong bớt Ota, giúp phá vỡ các hạt melanin mà không làm tổn thương các mô xung quanh. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều trị bằng laser không chỉ giúp cải thiện kích thước và màu sắc của bớt Ota mà còn giảm thiểu nguy cơ để lại sẹo. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng hiệu quả điều trị của laser Q-Switched Alexandrite là đáng kể, với tỷ lệ cải thiện lên đến 80% sau một liệu trình điều trị.

III. Phân tích hiệu quả điều trị

Đánh giá hiệu quả điều trị bớt Ota bằng laser Q-Switched Alexandrite cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kích thước và màu sắc của bớt. Nghiên cứu đã khảo sát 35 bệnh nhân và ghi nhận sự cải thiện đáng kể sau khi hoàn thành liệu trình điều trị. Các yếu tố như tuổi tác, màu sắc và vị trí tổn thương cũng có ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả điều trị cũng được ghi nhận cao, cho thấy sự thành công của phương pháp này trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

IV. Biến đổi cấu trúc vi thể và siêu vi thể

Nghiên cứu về biến đổi cấu trúc vi thể và siêu vi thể của bớt Ota trước, trong và sau điều trị bằng laser Q-Switched Alexandrite cho thấy những thay đổi rõ rệt. Hình ảnh mô bệnh học cho thấy sự giảm thiểu số lượng melanosome trong tế bào hắc tố sau khi điều trị. Điều này chứng tỏ rằng laser đã tác động hiệu quả đến cấu trúc tế bào, làm giảm sắc tố da. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của laser mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.

V. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Luận án này đã chỉ ra rằng laser Q-Switched Alexandrite là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bớt Ota. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị trong việc cải thiện tình trạng bệnh lý mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về điều trị các bệnh sắc tố da. Việc áp dụng công nghệ laser trong điều trị bớt Ota không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn góp phần vào sự phát triển của ngành da liễu tại Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ điều trị bớt ota bằng laser q switched alexandrite

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bớt Ota là một bớt sắc tố bẩm sinh, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1939 bởi hai bác sỹ người Nhật là Ota và Tamino. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là những dát màu nâu, nâu tím, tím xanh hoặc xanh đen, vị trí thương tổn có thể vùng má, thái dương hoặc trán,. chủ yếu tập trung ở vùng chi phối của nhánh mắt và nhánh hàm trên dây thần kinh sọ số V. Về dịch tễ bớt Ota ít gặp với người châu Âu, Canada (tỷ lệ khoảng 0,014%), gặp ở châu Á với tỷ lệ 0,1-0,6%, bệnh hay gặp nhất tại Nhật với tỷ lệ 0,6-1,1% dân số [1],[2],[3].

Bớt Ota nếu không được điều trị người bệnh sẽ phải mang một mảng tăng sắc tố suốt đời, ngày càng đậm lên và lan rộng trên mặt. Bớt Ota ảnh hưởng rất nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của người bệnh, làm họ tự ti, mặc cảm với xã hội, hạn chế khả năng giao tiếp, hòa nhập với cộng đồng, với trẻ nhỏ bệnh có thể ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách. Chính vì thế khám, điều trị bớt Ota là nhu cầu chính đáng và hết sức cấp thiết. Điều trị bớt Ota trước đây sử dụng các biện pháp như: lột da vùng bệnh lý bằng hóa chất, bào mòn bề mặt da, phẫu thuật cắt bỏ.

Tuy nhiên, những biện pháp trên hiệu quả không cao và có nhiều biến chứng như tạo sẹo xấu, tăng sắc tố. Công nghệ Laser ra đời và ứng dụng trong điều trị các bệnh sắc tố da nói chung và bớt Ota nói riêng đã mang lại hiệu quả cao, ít biến chứng. Một trong những loại Laser điều trị bớt Ota hiệu quả là Laser Q-switched Alexandrite [4],[5],[6]. Mặc dù hiệu quả điều trị bớt Ota bằng Laser Q-switched Alexandrite đã được chứng minh trên lâm sàng nhưng cách thức thực sự tia Laser tác động vào bớt Ota như thế nào, đích tác động của tia Laser là gì, những biến đổi của bớt Ota diễn biến ra sao khi tia Laser tác động vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ.

Để làm rõ quá trình này cần quan sát, phân tích những biến đổi của bớt Ota trước, trong, sau khi chiếu Laser trên hình ảnh mô bệnh học. Tuy nhiên, với các hình ảnh quan sát trên vi thể thông thường không đủ độ 2 phóng đại để quan sát các cấu trúc dưới tế bào. Chính vì vậy, việc phân tích diễn biến sự thay đổi siêu cấu trúc của bớt Ota trước, trong, sau điều trị bằng Laser QS Alexandrite trên kính hiển vi điện tử có ý nghĩa rất quan trọng: không chỉ minh chứng, làm rõ cách thức, diễn biến, hiệu quả điều trị của Laser QS Alexandrite với bớt Ota một cách trực quan, chi tiết giúp mang đến cái nhìn khoa học, xuyên suốt, toàn diện về điều trị bớt Ota bằng Laser, mà còn trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm điều trị tốt nhất bớt Ota. Trên thế giới bớt Ota đã được nghiên cứu từ lâu.

Tại Việt Nam, việc phát hiện, điều trị bớt Ota có thể được thực hiện ở một số chuyên ngành như Da liễu, Phẫu thuật tạo hình, Thẩm mỹ, nhưng bệnh hầu như chưa được nghiên cứu sâu và điều trị bớt Ota bằng Laser QS Alexandrite vẫn là một kỹ thuật tương đối mới. Các nghiên cứu về siêu cấu trúc của bớt Ota trên kính hiển vi điện tử cũng chưa được thực hiện. Đó là những cơ sở để chúng tôi thực hiện luận án “Điều trị bớt Ota bằng Laser QS Alexandrite”, với các mục tiêu: 1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng của bớt Ota điều trị tại Bệnh viện da li u Hà Nội.

Đánh giá hiệu quả điều trị bớt Ota bằng Laser QS Alexandrite 3. Phân tích sự thay đổi cấu trúc vi thể và siêu vi thể của bớt Ota được điều trị bằng Laser QS Alexandrite 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc da và quá trình tạo sắc tố da 1. Cấu trúc da Cấu trúc mô học của da bao gồm thượng bì, trung bì và hạ bì o Thượng bì: các tế bào tạo sừng là thành phần chủ yếu tạo nên thượng bì da.

Căn cứ vào quá trình biến đổi của các tế bào tạo sừng từ trong ra ngoài, thượng bì chia làm 5 lớp: Lớp đáy: được tạo bởi một hàng tế bào khối vuông hoặc trụ nằm trên màng đáy. Chúng có khả năng sinh sản mạnh, các tế bào mới di chuyển lên các lớp phía trên làm thượng bì luôn được đổi mới, trung bình 20-30 ngày. Dưới kính hiển vi điện tử, trong bào tương của các tế bào này có chứa các tơ trương lực (tonofilament- sợi tiền keratin), các sợi đó được tập hợp thành keratin khi tế bào chuyển lên lớp thứ hai. Lớp gai (lớp malpighi): lớp gai có 5-20 hàng tế bào lớn hình đa diện.

Giữa các tế bào này có các cầu nối bào tương. Dưới kính hiển vi điện tử, các cầu nối thực chất là những chồi bào tương của các tế bào nằm cạnh nhau được liên kết với nhau bởi các thể liên kết làm cho tế bào có hình gai hay sợi nối với nhau. Lớp hạt: có từ 3-5 hàng tế bào đa diện dẹt. Trong bào tương của các tế bào này chứa hạt keratohyalin.

Dưới kính hiển vi điện tử các hạt keratohyalin có hình sao hoặc khối đa giác đậm đặc điện tử. Lớp sáng (lớp bóng): là một lớp mỏng như một đường đồng nhất, thường khó quan sát. Các tế bào của lớp này kết dính chặt chẽ, rất mỏng. Những tế bào ở lớp này là những tế bào chết, không còn bào quan và nhân.

Lớp sừng: các tế bào biến thành các lá sừng mỏng, không nhân, trong bào tương có chứa nhiều keratin, tùy theo từng vùng mà có chiều dày khác nhau. 4 o Trung bì: là một mô liên kết xơ vững chắc có chiều dày thay đổi tùy từng vùng và được ngăn cách với thượng bì bởi màng đáy. Trung bì chia thành 2 lớp: Lớp nhú: mặt ngoài của trung bì tiếp xúc với thượng bì có những chỗ lồi lõm về phía thượng bì tạo thành các nhú bì. Lớp nhú có nhiều ở vùng phải chịu áp lực và cọ sát mạnh.

Lớp lưới: phần chính của trung bì nằm ở phía dưới được tạo bởi mô liên kết đặc hơn, các sợi keo tạo thành bó, đa số có hướng song song với mặt da o Hạ bì: là mô liên kết thưa, lỏng lẻo nối da với các cơ quan bên dưới giúp da trượt được trên các cấu trúc nằm ở dưới. Tùy vùng cơ thể, mức độ nuôi dưỡng mà có thể tạo thành những thùy mỡ hoặc lớp mỡ dày hay mỏng. Ngoài ra còn có các phần phụ của da như: các tuyến mồ hôi, các tuyến bã, nang lông [7],[8],[9],[10]. Quá trình tạo sắc tố da Màu da của người biểu hiện: màu đỏ của máu + màu sắc của sắc tố Các tế bào sắc tố gồm: o Nguyên bào hắc tố (melanoblaste): đây là loại tế bào phôi có khả năng tạo sắc tố.

o Tế bào hắc tố: là loại tế bào vừa sản xuất vừa chứa sắc tố trưởng thành o Tế bào chứa sắc tố (melanophore): ở người thì đây là tổ chức bào có chức năng của đại thực bào bắt giữ sắc tố và chứa sắc tố [7],[11],[12]. Nguồn gốc tế bào hắc tố Các tế bào sản xuất melanin của thượng bì là các tế bào hắc tố. Các tế bào hắc tố có nguồn gốc từ mào thần kinh của phôi thai. Chúng di cư đến thượng bì ở khoảng thời gian trước sinh.

Tại đây, chúng nằm ở ranh giới giữa thượng bì và trung bì. Thân của các tế bào hắc tố có dạng hình bán cầu nằm ở dưới hoặc giữa hai tế bào lớp đáy. Các tế bào hắc tố tạo thành một mạng lưới 5 rộng ở mặt ranh giới giữa thượng bì và trung bì, chúng có mặt trong các nang tóc và nang lông hoạt động theo chu kỳ phát triển của lông tóc. - Sự phân bố của các tế bào hắc tố: tỷ lệ tế bào hắc tố trên các tế bào thượng bì khác nhau rất lớn ở các vùng da khác nhau trên mỗi cá thể.

Tỷ lệ cao nhất là ở thượng bì da đầu, da vùng mặt (1/4 đến 1/5). Ở thượng bì đùi và cánh tay (1/10 đến 1/12). Thấp nhất là ở thân mình, trung bình có 1560 tế bào hắc tố/mm2. Tế bào hắc tố phân bố cân đối ở hai bên cơ thể, sự phân bố này không phụ thuộc giới tính và giống nhau ở tất cả các chủng tộc.

Ở người trưởng thành số lượng tế bào hắc tố cao hơn ở trẻ em và bào thai. Ở người cao tuổi (từ 60 trở lên) số lượng tế bào hắc tố giảm đi, đồng thời thượng bì cũng bị teo nên tỷ lệ tế bào hắc tố trên các tế bào thượng bì vẫn là hằng số. - Đơn vị melanin thượng bì: Là hệ thống tổ hợp đa tế bào bao gồm một tế bào hắc tố và các tế bào tạo sừng được nó cung cấp melanin. Đơn vị melanin thượng bì là đơn vị chức năng về hình thái của quá trình nhiễm sắc tố da.

Sự điều chỉnh nhiễm sắc tố của da chịu tác động của các yếu tố môi trường và các yếu tố nội sinh [7],[11],[12],[13]. Hình thái tế bào hắc tố Các tế bào hắc tố vùng thượng bì nằm ở lớp đáy, đây là những tế bào hình bán nguyệt hoặc hình dạng không xác định, bào tương sáng, chất nhân bắt màu đậm và thuần nhất. Từ mặt trên của các tế bào này có các sợi nhánh phân ly đi vào khe giữa các tế bào tạo sừng của thượng bì, chủ yếu là lớp đáy và lớp gai, bên trong tế bào hắc tố có chứa các melanosome. Trên hình ảnh siêu cấu trúc, các tế bào hắc tố có hình thái khác biệt so với các tế bào tạo sừng: tế bào hắc tố có hình bán khuyên, hình tam giác hoặc không có hình dạng nhất định, trên màng tế bào không có các thể liên kết hoặc thể bán liên kết, màng tế bào có cấu trúc tương đối thuần nhất.

Bào tương có đậm độ điện tử thấp, thuần nhất, không chứa các bó tơ trương lực 6 với đậm độ điện tử cao như các tế bào tạo sừng, bào tương tạo thành những nhánh nằm ở giữa các tế bào tạo sừng. Trong bào tương tế bào hắc tố có chứa nhiều các ribosom và tổ hợp ribosom. Nhánh bào tương cũng như bào tương của tế bào hắc tố sáng hơn so với tế bào sừng xung quanh. Nhân tế bào hắc tố không có hình dạng nhất định, màng nhân gồ ghề, chất nhân thuần nhất và có đậm độ điện tử cao hơn các tế bào tạo sừng.

Trong tế bào hắc tố chứa nhiều melanosome ở các giai đoạn phát triển khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Điều trị bớt Ota hiệu quả bằng laser Q-Switched Alexandrite là một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp điều trị bớt Ota, một loại bớt sắc tố bẩm sinh, bằng công nghệ laser Q-Switched Alexandrite. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế hoạt động của laser mà còn đánh giá hiệu quả lâm sàng, độ an toàn và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Đây là tài liệu hữu ích cho các bác sĩ da liễu, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp điều trị tiên tiến.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị hiện đại, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường thở bằng nội soi ống cứng trực tiếp, nghiên cứu về ứng dụng kỹ thuật nội soi trong điều trị. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải cung cấp thông tin về phẫu thuật ít xâm lấn, một xu hướng y học hiện đại. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến.