Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ DIỄN XƯỚNG CA HUẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình về cách tiếp cận của nghiên cứu văn hóa dân gian Về lịch sử phát triển của ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, trong bài viết “Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc”, tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Thuật ngữ quốc tế folklore (phôn-clo) - văn hóa dân gian, được W.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ. của người thời trước".
Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái phôn-clo Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái phôn-clo Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp và I-ta-li-a) và trường phái phôn-clo Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học [163]. Công trình Nghiên cứu folklore Mỹ của Jan Harold Bruvand, xuất bản lần đầu vào năm 1968 và lần thứ hai năm 1985, là một công trình nghiên cứu cơ bản về văn hóa dân gian được đánh giá cao, là cuốn sách hàng đầu được chọn làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên và cho các khóa học về folklore. Trong công trình này, tác giả đã giới thuyết các định nghĩa, trình bày về phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân loại và các tiểu loại của folklore… Trong quá trình nghiên cứu folklore, Jan Harold luôn chú trọng đến tính chỉnh thể nguyên hợp của một tác phẩm văn hóa dân gian [159]. Ở Việt Nam, thuật ngữ "phôn-clo" đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "văn học dân gian", "văn nghệ dân gian" và nay là "văn hóa dân gian".
Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ 11 sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của các nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian và cũng do tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm về phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới [163]. Tác giả Đinh Gia Khánh được giới nghiên cứu văn hóa dân gian đánh giá là người đã “đặt nền móng cho sự phát triển của ngành folklore học Việt Nam” với công trình Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian xuất bản năm 1989. Một trong những đóng góp quan trọng của công trình là giới thuyết khái niệm “văn hóa dân gian”. Đinh Gia Khánh là người đầu tiên đưa ra “tính chất nguyên hợp” của văn hóa dân gian và phân tích các thành tố cơ bản của nó như nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian và nghệ thuật ngữ văn dân gian.
Ông cũng viết về sinh hoạt văn hóa dân gian; các vấn đề lớn của văn hóa dân gian như: lịch sử, lý luận, phương pháp luận trong nghiên cứu văn hóa dân gian; vai trò của folklore học Việt Nam hiện nay trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới[56]. Theo ông, tác phẩm folklore tồn tại và vận động như một chỉnh thể nguyên hợp. Vì vậy, cần tiếp cận nó theo hướng tiếp cận chỉnh thể. Chỉnh thể ấy được cảm thụ bằng tất cả các giác quan trong cùng một lúc.
Ông cho rằng: “Tác phẩm folklore trong cùng một lúc tác động vào thị giác, vào thính giác, vào cảm xúc nhịp điệu. Tác phẩm folklore lại có mối quan hệ hữu cơ với môi trường, với sinh hoạt văn hóa, với thế ứng xử và lối ứng xử, với tập tục và truyền thống lâu đời của cộng đồng” [142, tr. Để nghiên cứu một tác phẩm folklore thì cần phải phân tích chỉnh thể nguyên hợp ấy ra các thành tố, hơn nữa cần phải phân tích từng thành tố ra các yếu tố nhỏ hơn để có thể đi sâu tìm hiểu nội dung cũng như cấu trúc của từng thành tố nói riêng, của chỉnh thể nguyên hợp nói chung [142, tr. Trong bài viết Nghiên cứu âm nhạc từ góc độ phôncơlo học, tác giả Tô Đông Hải cho rằng: “Âm nhạc dân gian là một bộ phận không thể chia cắt nổi 12 của toàn bộ sinh hoạt phôncơlo của một tộc người, một dân tộc.
Nó gắn chặt với lễ hội, với múa, với những hoạt động diễn xướng, với nghệ thuật tạo hình, với phong tục, tập quán của tộc người, dân tộc đó” [136, tr. Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng thành phần ngôn từ trong tác phẩm phôncơlo có thể tồn tại mà không có giai điệu, nhưng nếu giai điệu mà thiếu lời thì không tồn tại…; trong sự thống nhất giữa lời ca và giai điệu, yếu tố quyết định thường là phần lời… [136, tr. Nhìn chung các công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn hóa dân gian đã cung cấp những kiến thức nền tảng, các phạm trù nhận thức, lý thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các khái niệm, thuật ngữ cơ bản rất cần thiết và hữu ích để NCS có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình triển khai luận án. Các công trình nghiên cứu diễn xướng Ca Huế truyền thống 1.
Các công trình khảo cứu về sự hình thành diễn xướng Ca Huế Trong suốt chặng đường dài lịch sử của âm nhạc dân gian và cổ truyền Huế, thì sự xuất hiện loại hình nghệ thuật diễn xướng Ca Huế là một sáng tạo mới, góp phần thúc đẩy dòng âm nhạc cổ truyền Huế nói riêng và Việt Nam nói chung, tạo một bước phát triển của nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam. Khảo cứu về nguồn gốc và sự hình thành của Ca Huế thu hút khá nhiều tác giả. Về thời điểm ra đời của Ca Huế, có rất nhiều giả thiết khác nhau. Năm 1942, tác giả Ưng Bình Thúc Giạ Thị với sự hiểu biết sâu rộng của mình về âm nhạc Huế đã viết rằng: “Duy điệu ca khởi điểm từ đời nào, khi nào, sử thơ không truyền lại, chỉ thấy thời đại yêu chuộng nghề văn mà đoán, thời khởi điểm từ đời Hiếu Minh (Nguyễn Phúc Chu)” [125, tr.
13 Nhà nghiên cứu Thái Văn Kiểm trong Cố đô Huế nhất trí với cụ Ưng Bình là: “Còn như các điệu ca Huế thì có lẽ như mới sản xuất từ đời chúa Minh Tộ quốc Công Nguyễn Phúc Chu tức là Hiên Tông Hiếu Minh Hoàng Đế…”. Cụ thể hơn, tác giả Lê Văn Hảo trong bài viết “Góp phần tìm hiểu Ca nhạc Huế” cho rằng: “Thời kỳ hình thành và bước đầu phát triển của ca nhạc Huế là vào khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII. Đến giữa thế kỷ XVII, ca múa nhạc đã phát triển phong phú tại đô thành Phú Xuân” [69, tr. Về xuất xứ của Ca Huế, Nhạc sĩ Tô Vũ cho rằng: Nói về gốc gác lịch sử, có lẽ không ai phủ nhận nhạc Huế đã khởi sự hình thành từ cội nguồn nhạc Bắc.
Những cứ liệu lịch sử thời Nguyễn Hoàng vào Ái Tử (Quảng Trị) hay câu chuyện về Đào Duy Từ cho thấy: trên đường mở nước vào phía Nam văn hoá nghệ thuật nơi đất tổ lưu vực sông Hồng từ mấy thế kỷ đã theo bước chân Nam tiến vượt qua sông Gianh và sông Bến Hải để vào Huế. Lại có thể thấy chứng cứ khác ngay trong bản thân nhạc Huế, những “bản Bắc” còn mang một cái tên ý nghĩa nữa là “bản Ngự” với tính chất một thành phần cơ sở của nhạc Huế đã nói lên xuất xứ và mối quan hệ khắng khít với nhạc Bắc [145, tr. Đa số các công trình đều có chung quan điểm. Các công trình Bán buồn mua vui [125], Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam [25, tr.137-138], Tính chất và đặc điểm của Ca Huế có cùng kết luận về xuất xứ của Ca Huế là từ cung đình nhà Nguyễn.
Tác giả Lê Văn Hảo trong bài viết “Một vốn quý trong kho tàng âm nhạc Việt Nam cổ truyền”đã khảo cứu về nguồn gốc, quá trình phát triển của Ca Huế, cũng như một số đặc điểm nghệ thuật của ca Huế, ông khẳng định: “Ca nhạc Huế không phải là nhạc cung đình triều Nguyễn nhưng cũng không thuộc loại nhạc dân gian” [45]. 14 Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học Trần Văn Khê, Ca Huế có xuất phát điểm từ cung đình, từ “cung trung nhạc, một loại nhạc thính phòng trong cung thất của vua và của mẹ vua Nguyễn”[60, tr.68] sau đó mới lan tỏa ra dân gian, hòa quyện với dòng âm nhạc dân gian Huế đang khởi sắc. Đó là loại nhạc thính phòng của các hoàng thân, quốc thích, các quan chức của triều đình Huế, của các ông hoàng bà chúa say mê nghệ thuật. Từ lối thưởng thức kiểu thính phòng trong tư dinh của giới đại gia, khoa bảng.
dần dần không gian diễn xướng được mở rộng, chan hòa vào sinh hoạt văn nghệ dân gian. Năm 1961, trong bài viết “Lối ca Huế và lối nhạc Tài tử”, ông đã căn cứ vào sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ để giả định tổ tiên của lối ca Huế là: “Trong các loại nhạc triều đình, có lẽ lối Cung trung nhạc - hay là Cung trung chi nhạc - là gần với lối đàn Huế nhất” [61]. Ở đây ông đã xác định Ca Huế thuộc loại “quan nhạc” chứ không phải “dân nhạc” và cho rằng: “lối "nhạc tài tử" trong Nam là con đẻ của lối “ca Huế” miền Trung. Những người học nhạc trong Nam, cũng “đàn Huế” – Ông nội chúng tôi, ông Trần Quang Diệm chuyên đàn tì bà theo lối Huế và cô ruột chúng tôi, bà Trần Ngọc Viện cũng thường đàn Cổ bản Huế, kim tiền Huế” [61].
Với những ý kiến xác định và đoán định trên, chúng ta nhận thấy các ý kiến của tác giả Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Lê Văn Hảo, Tô Vũ, Trần Văn Khê tuy không thống nhất về thời điểm ca Huế xuất hiện, nhưng đều nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Ở đây ta không bàn về các ý kiến trên đâu là chính xác hay không chính xác, mà chỉ biết các tác giả đã rất để tâm đến sự hình thành của thể loại ca nhạc Huế. Về nguồn gốc, các nhà nghiên cứu đều có những suy đoán, kiến giải: Các chúa Nguyễn ở Đàng trong tiếp nối truyền thống thưởng thức âm nhạc ở Đàng ngoài mà cho tổ chức các buổi ca nhạc có lời ca ở cung đình, ngọn nguồn từ những ban, nhóm, gánh hát dân gian vốn manh nha từ thời Lý, Trần, Lê đã tụ hội vào Huế qua các cuộc di 15 dân của người Việt từ Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa và đồng bằng Bắc Bộ. Thú thưởng ngoạn này lúc đầu chỉ giới hạn ở phủ chúa hoặc các bậc vương công, mãi sau này mới lan ra dân chúng.
Như vậy, vào thời điểm các chúa Nguyễn tại vị ở Huế thì ca nhạc Huế đã bắt đầu có điều kiện để phát sinh.