mở đầu có ý nghĩa quan trọng, mang tính định hướng cho việc triển khai áp 14 dụng DHVM trong đào tạo GV tại Hoa Kì nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung. Shively và công sự (1970), Tác động của phương thức phản hồi trong DHVM [130]. Doty (1971), Đánh giá DHVM và việc ghi hình trong đào tạo GV dạy nghề và GV kĩ thuật. Pha IV: Ứng dụng trên lớp của DHVM và ghi hình [114].
Những nghiên cứu này cho thấy ý nghĩa của những nhân tố quan trọng trong DHVM như: Các phản hồi; Những đoạn băng ghi hình BHVM cũng như tác động của DHVM trong quá trình đào tạo GV. Phân tích các kết quả nghiên cứu cho thấy một quá trình đánh giá lâu dài và đa phương diện về tác động của DHVM đến quá trình đào tạo GV. Các kết quả đều chứng minh việc áp dụng DHVM vào đào tạo GV mang ý nghĩa thực tiễn và lí luận cao. Ngoài những nghiên cứu cơ bản về DHVM, cũng có những nghiên cứu của một số tác giả như: - B.
Hillenmeyer (1973) [112] đã tập trung vào một vài vấn đề cụ thể hơn của DHVM như: BHVM nên kéo dài bao nhiêu phút là phù hợp, kiểm chứng sự khác biệt giữa đối tượng là HS trung học hay giáo sinh với vai trò là HS trong lớp học vi mô. Những nghiên cứu chi tiết này đã cho những gợi ý hết sức quý báu cho việc xác định những nhân tố cụ thể khi triển khai áp dụng DHVM trong đào tạo GV vật lý tại Việt Nam. Cho đến những năm sau vẫn có những nghiên cứu tập trung vào những vấn đề cơ bản của DHVM như nghiên cứu của: - M. Al-Methan (2003), Những giá trị của DHVM theo cảm nhận của giáo sinh trường Đại học Cô oet [109]; Những nghiên cứu này đều tập trung ở những quốc gia thuộc Châu Á – những nước chỉ mới áp dụng của DHVM trong những năm gần đây.
Kết quả nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tích cực trong quá trình đào tạo GV xét trên góc độ đánh giá của đối tượng người học. Những nghiên cứu trên một lần nữa khẳng định khả năng ứng dụng DHVM trong những điều kiện không thực sự thuận lợi vẫn mang lại hiệu quả cao. Sau thời gian bùng nổ ứng dụng DHVM vào thập kỉ 70 và 80 của thế kỷ XX; trong thời gian gần đây, có những thay đổi trong nghiên cứu về DHVM. Những nghiên cứu cho thấy xu hướng kết hợp giữa DHVM với phương thức đào tạo GV khác, hoặc xem xét các tác động của nhân tố lịch sử, văn hóa – xét trên quan điểm tâm lí học hoạt động trong quá trình hình thành KN của giáo sinh.
Có thể kể đến: - N. Bell (2007), [110] nghiên cứu về đặc trưng hoạt động của các giáo sinh trong môi trường của DHVM. Fernández (2009), [117] trong nghiên cứu về việc kết hợp giữa DHVM với nghiên cứu bài học của Nhật Bản trong đào tạo GV; Ngoài những công trình nghiên cứu trên, cũng có nhiều cuốn sách đề cập đến DHVM. Trong đó có thể kể đến một số cuốn sách tiêu biểu như: - N.
Lakshmi (2009), DHVM và các GV tương lai [123]; Những cuốn sách này đã đề cập ở mức độ khái quát một số vấn đề cơ bản của DHVM. Tuy nhiên, DHVM chỉ được áp dụng để rèn luyện các KN dạy học đơn lẻ và không có những hướng dẫn triển khai cụ thể trong quá trình đào tạo GV. Có nhiều bước tiến hành rèn luyện KN dạy học bằng DHVM được nêu ra tùy thuộc vào quan điểm hoặc điều kiện tiến hành rèn luyện của từng quốc gia. Các nghiên cứu ở trong nƣớc Ở Việt Nam, DHVM là một khái niệm còn khá mới mẻ.
Năm 1999, trong khuôn khổ của dự án Việt Bỉ - Hỗ trợ học từ xa, tác giả M. Britten Đại học sư phạm Dakar [1], xuất bản cuốn “DHVM và đào tạo GV” được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Đây là cuốn sách đề cập đến DHVM đầu tiên. Nội dung của cuốn sách bàn về khái niệm, những cơ sở lý thuyết, các bước tiến hành, khái quát một số KN dạy học chung.
Tuy nhiên, trong sách chưa trình bày cụ thể về phương hướng ứng dụng DHVM, các loại KN dạy học (trong đó bao gồm những KN dạy 16 học chuyên biệt trong đào tạo GV cho các bộ môn khoa học trong trường phổ thông). Trong những năm sau đó có một số kết quả nghiên cứu ban đầu đã được công bố như: - Đặng Văn Đức (2002), Sử dụng DHVM trong đào tạo GV ở Khoa Địa lí – Trường ĐHSP Hà Nội [36]. Đề cập đến vai trò và cách thức vận dụng DHVM vào đào tạo GV chất lượng cao tại Khoa Địa lí – Trường ĐHSP Hà Nội. - Thiều Huy Thuật (2005), Sử dụng DHVM trong môi trường học tập đa phương tiện ở tiểu học [79], đề cập đến DHVM trong dạy học tiểu học thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện, đồng thời đưa ra quy trình DHVM trong việc nâng cao năng lực sư phạm cho GV tiểu học thông qua hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện - Ngô Thị Hải Yến (2006), Sử dụng DHVM trong các tiết thực hành phương pháp giảng dạy cho SV Khoa Địa lí Trường ĐHSP Hà Nội.
Vận dụng DHVM vào các tiết thực hành của SV sư phạm cũng tại khoa Địa lí. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu của đề tài này chỉ mới dừng lại ở việc ghi hình và đánh giá các tiết dạy học của GV môn Địa lí ở trường phổ thông – một khía cạnh của việc sử dụng DHVM. - Cao Đức Tiến (2007), Sử dụng DHVM trong đào tạo, bồi dưỡng GV. Vận dụng DHVM vào đào tạo GV ngữ văn (xác định hệ thống KN dạy học cần rèn luyện cho SV ngữ văn: khái niệm dạy HS cách đọc – hiểu, khái niệm xây dựng kế hoạch bài học).
- Nguyễn Thị Kim Ánh (2012), Rèn luyện KN dạy học theo hướng tăng cường tự học, tự nghiên cứu của SV khoa hoá học ngành sư phạm ở các trường đại học [5]. Việc sử dụng một cách hợp lý DHVM kết hợp với một số thủ thuật dạy học sẽ góp phần rèn luyện KN dạy học cho SV và nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường đại học. Luận án đã tổng quan một cách hệ thống cơ sở lý luận về đổi mới PPDH ở bậc đại học và thiết kế giáo trình điện tử; Áp dụng DHVM kết hợp với việc sử dụng một số thủ thuật dạy học để rèn luyện KN chuẩn bị bài học, KN lên lớp và KN nhận xét, đánh giá thông qua học phần phươn pháp dạy học 3 và NVSP. - Trần Thị Thanh Thuỷ (2013), Rèn luyện KN dạy học cho SV sư phạm địa lý bằng DHVM [82].
Tác giả đề xuất quy trình rèn luyện KN dạy học cho SV sư phạm Địa lý bằng DHVM phù hợp với đối tượng, điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật và CTĐT GV tại khoa Địa lý, trường ĐHSP Hà Nội; đồng thời tổ chức rèn luyện các KN dạy học cho SV theo quy trình và những kỹ thuật cụ thể bằng DHVM 17 đạt hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH Địa lý ở trường phổ thông (diễn đạt ngôn ngữ, sử dụng câu hỏi, sử dụng bản đồ giáo khoa). - Phùng Việt Hải (2015), Bồi dưỡng năng lực dạy học theo góc cho SV ngành sư phạm vật lý [38]. Tác giả đã xây dựng và sử dụng được quy trình rèn luyện từng KN của năng lực dạy học theo góc cho SV bằng kỹ thuật DHVM. - Thiều Huy Thuật (2016), Bồi dưỡng KN dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiếp cận DHVM [80].
Tác giả đã hệ thống hoá, làm rõ, bổ sung và phát triển lý luận của KN dạy học, của DHVM. - Trương Thị Thanh Mai (2017), Rèn luyện KN dạy học cho SV đại học ngành sư phạm sinh học bằng DHVM [55], luận án đã xác định được nguyên tắc và quy trình vận dụng DHVM vào việc rèn luyện KN dạy học thuộc nhóm KN tổ chức bài lên lớp môn sinh học, các nguyên tắc và quy trình xây dựng rubric đánh giá KN dạy học môn sinh học được tổ chức rèn luyện trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, xây dựng được bộ công cụ sử dụng trong quá trình rèn luyện gồm: phiếu hoạt động/nhiệm vụ rèn luyện, phiếu quan sát – đánh giá, rubric hướng dẫn đánh giá mức độ đạt được về KN dạy học, tài liệu hướng dẫn vận dụng DHVM để rèn luyện một số KN dạy học thuộc nhóm KN tổ chức bài lên lớp môn sinh học. - Uông Thị Lê Na, Tạp chí Giáo dục số Đặc biệt kỳ 1, tháng 7 năm 2016, Thực trạng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên sư phạm thông qua dạy học vi mô. Bài báo trình bày về kết quả khảo sát về nhận thức của sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lí về phát triển năng lực dạy học; thực trạng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên; những thuận lợi và những kho khăn khi phát triển năng lực dạy học cho sinh viên; các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực dạy học của sinh viên.
- Uông Thị Lê Na, Tạp chí Giáo dục số 367, Nghiên cứu hiệu quả của dạy học vi mô trong đào tạo “giáo viên tương lai” ở các trường cao đẳng. Bài báo trình bày khái niệm, các bước cơ bản của PPDH vi mô (dạy học trích đoạn) và kết quả thực nghiệm phương pháp này tại hai lớp (khoảng 40 sinh viên) của trường Cao đẳng sư phạm Bình Phước năm học 2014 – 2015, qua đó khẳng định dạy học vi mô hiệu quả hơn, khách quan hơn trong việc nhận xét, đánh giá sinh viên – những giáo viên tương lai. - Uông Thị Lê Na, Tạp chí Giáo dục số 363, Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp dạy học vi mô ở một số trường cao đẳng sư phạm. Dạy học vi mô cho phép rèn luyện các năng lực dạy học, giáo dục thông qua các BHVM được thiết kế chu đáo, tiến hành dưới sự kiểm soát của giảng viên.
Bài báo trình bày 18 kết quả khảo sát những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng dạy học vi mô ở các trường cao đẳng sư phạm. - Đỗ Thị Trinh, Tạp chí Giáo dục số 400, Vận dụng phương pháp dạy học vi mô trong rèn luyện KN sư phạm cho sinh viên sư phạm toán. Dạy học vi mô là hình thức dạy học tổ chức lớp học theo qui mô nhỏ, nhằm phát huy tính tích cực, coi trọng rèn KN nghiệp vụ cho sinh viên các trường chuyên nghiệp.