phần mở đầu và kết luận, cấu trúc luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch Chƣơng 2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên thiên nhiên cho phát triển du lịch tỉnh Phú Yên Chƣơng 3. Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển du lịch tỉnh Phú Yên Chƣơng 4.
Định hƣớng khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Phú Yên cho phát triển du lịch 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Một số vấn đề lý luận chung 1.1 Một số khái niệm về du lịch * Du lịch: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [2]. * Điểm du lịch: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch đƣợc đầu tƣ, khai thác phục vụ khách du lịch” [2].
* Tuyến du lịch: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng thủy, đƣờng hàng không” [3]. * Loại hình du lịch: “Loại hình du lịch là các hình thức du lịch đƣợc tổ chức nhằm thỏa mãn mục đích du lịch của khách du lịch” [4]. Có nhiều cách phân loại LHDL khác nhau, tuy nhiên, hiện nay hoàn chỉnh nhất là phân loại LHDL của Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Oganization - UNWTO) (hình 1. 1: Phân loại loại hình du lịch theo UNWTO [trích theo 4] 6 Đây cũng là những LHDL phổ biến hiện nay, một số LHDL theo cách phân chia này cũng đƣợc chọn để đề xuất định hƣớng PTDL của Phú Yên.
* Du lịch tham quan: Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có TNDL với mục đích tìm hiểu, thƣởng thức những giá trị của TNDL [3]. Trong luận án đã đề cập đến LHDL tham quan trải nghiệm giá trị địa chất gắn với văn hóa đá, ở đây đƣợc hiểu là các hoạt động du lịch của du khách để tham quan, khám phá, trải nghiệm các di tích về đá gắn với quá trình thành tạo đá, quá trình khai thác sử dụng đá bazan của cƣ dân bản địa. * Du lịch sinh thái: Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng, có sự tham gia của cộng đồng dân cƣ, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trƣờng [2]. * Du lịch nghỉ dưỡng: Là loại hình du lịch giúp cho con ngƣời phục hồi sức khoẻ và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thƣờng xuyên xảy ra trong cuộc sống [5].
Nhƣ vậy có thể hiểu, du lịch nghỉ dƣỡng biển là du lịch nghỉ dƣỡng của du khách ở vùng biển, đây là LHDL đƣợc chọn để đánh giá trong luận án. * Sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị của tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch [2]. Sản phẩm du lịch còn đƣợc phân biệt thành 02 loại: - Sản phẩm du lịch chính: Là sản phẩm du lịch mang tính đặc trƣng, có khả năng tạo dựng thƣơng hiệu du lịch cho địa phƣơng [6]. - Sản phẩm du lịch đặc thù: Là sản phẩm có các yếu tố hấp dẫn, độc đáo/duy nhất, nguyên bản và đại diện về tài nguyên du lịch cho một lãnh thổ/điểm đến du lịch với những dịch vụ du lịch không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu/mong đợi của du khách mà còn tạo đƣợc ấn tƣợng bởi tính độc đáo và sáng tạo [7].
* Sức chứa du lịch “Sức chứa du lịch là số lƣợng ngƣời cực đại mà điểm du lịch có thể chấp nhận, không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột giữa cộng đồng địa phƣơng và du khách, không làm suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa” [8]. Khái niệm về tài nguyên du lịch * Tài nguyên du lịch “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành SPDL, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. TNDL bao gồm TNDLTN và TNDL văn hóa” [2]. 7 TNDL chính là tiền đề để PTDL, TNDL càng đa dạng, phong phú, đặc sắc và có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và khả năng khai thác phục vụ cho HĐDL càng cao.
* Tài nguyên du lịch tự nhiên “TNDLTN bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch” [2]. TNDLTN gồm tài nguyên đang đƣợc khai thác cho du lịch và tài nguyên chƣa đƣợc khai thác cho du lịch. Nhƣ vậy, TNTN hay ĐKTN đƣợc con ngƣời khai thác và sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch hoặc đã đƣa vào quy hoạch sử dụng cho PTDL trở thành TNDLTN. Trong luận án, các điểm TNTN đƣợc chọn để đánh giá là các điểm đã đƣợc khai thác cho du lịch hoặc đã đƣợc quy hoạch để thành điểm du lịch.
Do đó, khái niệm TNTN phục vụ PTDL đƣợc sử dụng trong luận án cũng chính là TNDLTN. * Tài nguyên du lịch văn hóa TNDL văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con ngƣời có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch [2]. Khái niệm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên * Điều kiện tự nhiên “ĐKTN là khả năng của toàn bộ các thành phần trong môi trƣờng tự nhiên, có ảnh hƣởng đến cuộc sống và các hoạt động sống của con ngƣời trên một lãnh thổ (ví dụ: vị trí địa lý, địa hình, TNTN, khí hậu, các nguồn nƣớc, các nguồn động thực vật…). ĐKTN là một nguồn lực quan trọng trong việc phát triển quốc gia.
Tuy nhiên, đối với từng quốc gia nó có mặt thuận lợi và khó khăn không hoàn toàn giống nhau [9]. * Tài nguyên thiên nhiên “TNTN là toàn bộ giá trị vật chất của thiên nhiên, cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động kinh tế của xã hội loài ngƣời nhƣ: khoáng sản, đất đai, động thực vật… và các ĐKTN nhƣ: khí hậu, không khí, ánh sáng, nguồn nƣớc. Danh mục các loại TNTN cũng thƣờng xuyên đƣợc mở rộng, tùy vào những tiến bộ của xã hội, vào trình độ khoa học - kỹ thuật của con ngƣời [9]. 8 Khái niệm ĐKTN và TNTN tuy tƣơng đồng nhƣng có sự khác biệt.
ĐKTN thì có thể có lợi hay không có lợi cho phát triển kinh tế. ĐKTN trở thành TNTN khi đƣợc con ngƣời khai thác và sử dụng cho mục các mục đích khác nhau. Vai trò của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đối với phát triển du lịch Du lịch là ngành kinh tế phát triển dựa trên các dạng tài nguyên. ĐKTN và TNTN có vai trò rất lớn đối với phát triển du lịch, các thành phần của tự nhiên nhƣ địa hình - địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái có những tác động cụ thể đến sự PTDL.
* Vai trò của địa hình - địa mạo Vai trò của địa hình và các quá trình địa mạo đối với phát triển du lịch thể hiện ở các khía cạnh: - Địa hình là thành phần chính của tự nhiên tạo nên cảnh quan để du khách thƣởng ngoạn. Đặc điểm và hình thái của địa hình cũng quyết định đến việc phát triển các LHDL. Có những LHDL chỉ đƣợc phát triển trong điều kiện địa hình đặc thù nhƣ du lịch leo núi, chèo thuyền vƣợt thác, tham quan địa hình karst…Các quá trình địa mạo cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo lập nên các dạng địa hình để đƣợc khai thác, sử dụng cho du lịch [10]. - Bề mặt địa hình là nơi diễn ra các HĐDL của con ngƣời, đồng thời cũng là địa bàn để xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ HĐDL.
Đặc điểm hình thái và trắc lƣợng hình thái địa hình có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho việc xây dựng các công trình này [10]. Hiện tại, con ngƣời đã khai thác rất nhiều giá trị của địa hình cho HĐDL, đơn cử theo hai hƣớng chính sau: - Sử dụng trực tiếp: thƣởng ngoạn phong cảnh gắn liền với các HĐDL khác nhau nhƣ khám phá thƣởng ngoạn các cảnh quan karst, các đảo đá vôi, các vách núi; chèo thuyền vƣợt thác ghềnh trên sông; tắm biển, lặn biển ở các bãi biển, đáy biển. - Sử dụng gián tiếp: con ngƣời đã gián tiếp sử dụng bề mặt địa hình để phục vụ HĐDL bằng việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch nhƣ đƣờng xá, nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi, sân golf, các resort… * Vai trò của khí hậu Khí hậu là tiền đề quyết định cho các hoạt động du lịch, xác định sự phù hợp của địa điểm và thời gian, chất lƣợng sản phẩm. Ảnh hƣởng của nhân tố khí hậu thể hiện rõ nét ở các LHDL nghỉ biển, nghỉ núi và mức độ nhất định trong du lịch chữa bệnh.
Đối với các du lịch nghỉ biển, các thành phần nhƣ ánh nắng, độ ẩm, hƣớng gió, nhiệt độ và một số đặc điểm nhƣ vị trí địa lý, 9 chiều dài - rộng của bãi tắm… sẽ quyết định đến nhu cầu của khách. Ví dụ: Khách du lịch Châu Âu thích tắm biển khi nhiệt độ nƣớc biển từ 200C - 250C, khách du lịch Bắc Âu thì lại thích tắm biển khi nhiệt độ nƣớc biển khoảng 150C - 160C. * Vai trò của thủy văn Hiện nay, khi du lịch đang hƣớng dần về với thiên nhiên thì vai trò của yếu tố thủy văn đối với PTDL càng đƣợc thể hiện rõ. Các mặt nƣớc sông, hồ, mặt biển, đầm, vịnh…và các yếu tố động lực của môi trƣờng nƣớc nhƣ sóng, thác, ghềnh…có ý nghĩa lớn cho PTDL, nhất là du lịch thể thao, nghỉ dƣỡng.
Một số quốc gia, ví dụ Việt Nam, những thắng cảnh gắn liền với yếu tố thủy văn đã trở thành biểu tƣợng, điểm nhấn thu hút hàng triệu lƣợt khách du lịch nƣớc ngoài mỗi năm nhƣ: sông Hƣơng (Huế), thác tình yêu (Sa Pa), hồ Xuân Hƣơng (Đà Lạt).