Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Trong quá trình xây dựng CNXH ở LiênXô và một số nước Đông Âu, cũng như các nước khác trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp và nội dung giáo dục tư tưởng, một số đã được dịch ra tiếng Việt. Cuốn sách Nghệ thuật diễn giảng (1976) [135] đã khẳng định: Một trong những hình thức quan trọng và thích hợp nhất để phổ biến kiến thức chính trị, khoa học là bài giảng.Phancôvích, những bài giảng được chuẩn bị cẩn thận và truyền đạt tốt sẽ giúp cho người nghe có thêm kiến thức mới trong từng lĩnh vực, biết tư duy sâu rộng và hiểu rõ hơn những hiện tượng phức tạp của tự nhiên và xã hội.
Giảng viên cần phải lao động miệt mài, sáng tạo để đạt được kỹ năng diễn giảng. Muốn như vậy, giảng viên cần phải được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên. Công trình đã tổng kết những kinh nghiệm giảng dạy khoa học xã hội ở các trường cao đẳng quân sự, sự vận dụng những phương pháp và hình thức tiên tiến trong giảng dạy khoa học xã hội, nhằm phổ biến kinh nghiệm giảng dạy cho tất cả giảng viên, đặc biệt là đối với những giảng viên mới bước vào môi trường sư phạm. Với họ, sự trưởng thành về nhân cách phụ thuộc vào sự tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Khi nghiên cứu về cơ sở của hoạt động tuyên truyền tư tưởng của đảng cộng sản, các nhà khoa học đã đi sâu phân tích làm rõ các đặc điểm và những 13 yêu cầu dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học đối với hoạt động này. Nhà giáo dục Xôviết nổi tiếng V.Cruchetxki (1981), Những cơ sở tâm lý học [72], khẳng định: Nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục cộng sản chủ nghĩa là hình thành ở thế hệ trẻ niềm tin và tình cảm cộng sản chủ nghĩa vững chắc và hành vi đạo đức dựa trên cơ sở niềm tin vào tình cảm đó. Chỉ có thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng cách dựa trên những tri thức về quy luật tâm lý của sự hình thành nhân cách tích cực và có mục đích, về những quy luật phát triển đạo đức của nó cũng như sự hiểu biết đầy đủ những đặc điểm cá nhân. Nhà giáo dục Xôviết M.Calinin (1983), Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa [66] đã nhấn mạnh một trong những phương pháp giáo dục tư tưởng quan trọng là sử dụng và phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục đối với ý thức con người.Calinin, giáo dục và bồi dưỡng những phẩm chất cao quý đó là một yếu tố hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản.Calinin cũng đã khẳng định: Cần phải đến với từng người, đánh giá họ, làm nổi bật những mặt tốt của họ bởi vì không thể chỉ giáo dục dựa trên mặt tiêu cực.
Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng, phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ bản: Có sự am hiểu sâu sắc đặc điểm tâm lý của đối tượng, phải khêu gợi được tính tích cực, tự giác của đối tượng và bản thân chủ thể làm công tác giáo dục tư tưởng phải có trình độ, năng lực, phương pháp luận khoa học và phẩm chất đạo đức trong sáng. Điều này chỉ có được thông qua quá trình đào tạo và tự đào tạo. Công trình tập trung nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến đào tạo giáo viên vùng Đông Á bao gồm xu hướng đại học hóa toàn bộ giáo viên các cấp, chương trình đào tạo giáo viên, vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên. Việc xây dựng một lý thuyết Đông Á về đào tạo giáo viên trên cơ sở nhìn lại truyền thống lịch sử về đào tạo giáo 14 viên và những giá trị văn hóa tiềm ẩn của vùng Đông Á là rất cần thiết.
Tác giả đưa ra các nghiên cứu chi tiết về hệ thống các trường đại học, cao đẳng và học viện đào tạo giáo viên ở Nhật Bản, bối cảnh lịch sử của các trường sư phạm; những khác biệt chính giữa đại học sư phạm và các đại học đa ngành, đồng thời nêu rõ những điểm mạnh cũng như những vấn đề vướng mắc của hệ thống này.IMIG - Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Sư phạm Hoa Kỳ (2011), Hiện trạng giáo dục sư phạm trong thế kỷ XXI ở nước Mỹ [73]. Tác giả đã tập trung phân tích những nhân tố luật pháp và chính trị tác động đến đào tạo giáo viên và hoạt động của các trường sư phạm ở Mỹ. Theo đó, chương trình đào tạo giáo viên theo kiểu truyền thống cần được xem xét lại. Những nhân tố gây ảnh hưởng tới việc đào tạo giáo viên vẫn còn chưa được xác định thật rõ và vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh hiệu quả của những phương thức đào tạo khác nhau như xây dựng chương trình bốn năm hay là năm năm học và những cách tiếp cận khác nhau như lấy học sinh làm trung tâm hay lấy thầy giáo làm trung tâm.
Chương trình đào tạo hiện nay đã thất bại trong việc tạo ra một đội ngũ giáo viên có đủ năng lực vượt qua những thử thách và yêu cầu ngày càng cao của nghề giáo để đáp ứng nhu cầu của nhà trường hiện đại. Các công trình trên đều nhấn mạnh vai trò của người giảng viên trong quá trình đào tạo. Tất cả những kỹ năng, nhân cách, tri thức của giảng viên đều được hình thành thông qua đào tạo, bồi dưỡng. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội thì chương trình đào tạo giảng viên ở mỗi giai đoạn cần có sự thay đổi.
Các công trình đề cao tính thích ứng của chương trình đào tạo với thực trạng và nhu cầu giáo dục, đào tạo. Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án - Nhóm công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, Đảng lãnh đạo đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các trường đại học, cao đẳng. Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Kỷ yếu hội thảo khoa học [85], các nhà khoa học đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao chất lượng giáo viên và vai trò của trường sư phạm trong thực hiện nhiệm vụ này. Các ý kiến tham luận thống nhất cho rằng: Chất lượng giáo dục phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng đào tạo giáo viên, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm - với tư cách là đòn bẩy để tạo nên sự đổi mới của cả hệ thống giáo dục.
Những giải pháp được đưa ra tại Hội thảo tập trung vào chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên, coi đây là những khâu đột phá nhằm thiết thực đổi mới quá trình đào tạo giáo viên để đáp ứng những biến đổi về kinh tế, xã hội đất nước. Cuốn sách Trí thức Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nguyễn Văn Sơn (2002) [145]. Theo tác giả, đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: Là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; đối tượng tác động chủ yếu của người trí thức giáo dục đại học là những sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động là nhằm đào tạo ra những người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức giáo dục đại học vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị. Từ việc đánh giá thực trạng về cơ cấu, chất lượng của trí thức giáo dục đại học, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
16 Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - Vấn đề và giải pháp [22]. Theo các tác giả, một trong các giải pháp phát triển giáo dục trong những năm tới là phải củng cố, phát triển đội ngũ nhà giáo. Việc đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là khâu đột phá có ý nghĩa quyết định. Cần coi trọng việc bồi dưỡng năng lực, cải tiến phương pháp giảng dạy cho nhà giáo để thích ứng, phù hợp với đặc điểm mỗi địa phương và giáo dục lòng yêu người, yêu nghề cho nhà giáo.
Cuốn sách Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp của Lê Đức Ngọc (2005) [133] khi đề cập đến vấn đề đổi mới công tác giáo viên để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng, đã cho rằng: Có hai lý do chính làm cho vấn đề đội ngũ nhà giáo trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà trường ĐH. Thứ nhất, trình đội của đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa. Thứ hai, chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi lớn nhất của mỗi trường đại học, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo. Từ đó, tác giả đề nghị: Cần có một tổ chức để thực hiện việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
Nguyễn Thị Thu Hương (2012), “Xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường đại học - Thực trạng và giải pháp”, bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội [118]. Từ việc đánh giá thực trạng đội ngũ và công tác quản lý đội ngũ giảng viên trong trường đại học, tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học ở Việt Nam. Một trong những giải pháp mà tác giả đưa ra đó là đào tạo giảng viên cho các trường đại học. Giáo dục Việt Nam chuyển từ đào tạo theo “cung” (đào tạo những gì cơ sở đào tạo có, giảng viên có) sang đào tạo theo “cầu” (đào tạo theo nhu cầu của khách hàng); củng cố hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.