Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Gia Thọ tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9 31 01 10), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Công Sách và TS. Trần Mạnh Hùng, bảo vệ năm 2019.
Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng tiêu dùng xanh đang là xu thế tất yếu nhằm giải quyết các vấn đề môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Trong các thập kỷ qua, nỗ lực chuyển đổi cơ cấu công nghiệp và sản xuất sạch hơn chủ yếu chỉ giải quyết các tác động môi trường trong khâu sản xuất của doanh nghiệp mà chưa giải quyết được các tác động phát sinh từ việc lựa chọn, sử dụng và thải loại sản phẩm của người tiêu dùng. Tại Việt Nam, quá trình tăng trưởng kinh tế đang đối mặt với thực trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường. Dù Nhà nước đã ban hành một số chủ trương và chính sách như Tuyên ngôn quốc tế và Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững (1999), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (tháng 9/2012), việc thực thi chính sách tiêu dùng xanh vẫn còn nhiều rào cản. Chính sách chi tiêu và mua sắm công chưa đồng bộ theo xu hướng mua sắm xanh, thiếu vắng chính sách khuyến khích mua sắm sản phẩm tái chế, trong khi các doanh nghiệp vẫn còn xu hướng sử dụng máy móc lạc hậu tiêu tốn năng lượng (Vũ Văn Hiền, 2014).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là các công trình trong và ngoài nước trước đây chủ yếu tiếp cận tiêu dùng xanh từ góc độ vi mô hoặc góc độ phân tích hành vi của người tiêu dùng, rất ít công trình nghiên cứu toàn diện từ góc độ quản lý nhà nước và chính sách công.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Mục tiêu tổng quát: Hệ thống hóa, bổ sung và luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách tiêu dùng xanh để đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh thời kỳ đến năm 2030.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa, bổ sung và luận giải rõ cơ sở lý luận về chính sách tiêu dùng xanh.
- Đánh giá khách quan thực trạng chính sách và thực thi chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam, xác định đúng những kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam thời kỳ đến năm 2030.
Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:
- Tiêu dùng xanh là gì và Nhà nước cần phải làm gì để thúc đẩy tiêu dùng xanh trong phát triển nền kinh tế xanh, tăng trưởng xanh?
- Khung khổ và nội dung chính sách tiêu dùng xanh trong phát triển kinh tế xanh ở một quốc gia như thế nào?
- Những chính sách nào đang có hiệu lực điều chỉnh việc tiêu dùng xanh ở Việt Nam?
- Để thúc đẩy tiêu dùng xanh ở Việt Nam thời kỳ đến năm 2030 cần có những chính sách gì của Nhà nước?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh.
- Phạm vi nội dung: Chính sách tiêu dùng xanh bao gồm chính sách chi tiêu công xanh (tiêu dùng của chính phủ) và chính sách tiêu dùng xanh của dân cư (tiêu dùng cuối cùng của dân cư), không nghiên cứu chính sách tiêu dùng xanh trong sản xuất (tiêu dùng trung gian).
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam từ năm 2012 và đề xuất giải pháp chính sách đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, nhóm công trình về tăng trưởng xanh và kinh tế xanh:
- Các nghiên cứu quốc tế: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2012) mang tên Inclusive Green Growth: The Pathway to Sustainable Development khẳng định tăng trưởng xanh là công cụ cần thiết để đạt mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng khung phân tích tác động của chính sách đến doanh nghiệp, người tiêu dùng; công trình của Zongwei Luo (2012) về mô hình chuỗi cung ứng và kỹ thuật tài chính trong phát triển kinh tế xanh; công trình của Woodrow W. Clark II và Grant Cooke (2015) về cách mạng công nghiệp xanh; nghiên cứu của Alberto Ansuategi, Juan Delgado và Ibon Galarraga (2015) về kinh tế năng lượng xanh. Ngoài ra, tác giả điểm lại các khái niệm của UN-ESCAP, UNEP, OECD, EU và nghiên cứu của Kim Ngọc và Nguyễn Thị Kim Thu (2015).
- Các nghiên cứu trong nước: Kỷ yếu hội thảo của Đoàn Khối các cơ quan Trung ương (2014); sách nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2012) về tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh; nghiên cứu so sánh chính sách tăng trưởng xanh của các nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan) của tác giả Nguyễn Huy Hoàng (2015); các bài báo khoa học của Trần Văn Nghĩa (2016), Hải Nam (2013), Phạm Thị Ngọc Trâm (2006), Lê Văn Chiến (2016), Đào Khánh Hùng (2016), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Đặng Thị Thu Hoài (2015), Nguyễn Trọng Hoài (2012).
Thứ hai, nhóm công trình về hành vi và tiêu dùng xanh:
- Nghiên cứu quốc tế: Mô hình hành vi tiêu dùng vì môi trường của Rylander và Allen (2001); Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen; nghiên cứu của Hui-hui Zhao, Qian Gao, Yao-ping (2014) và Qinghua Zhu, Ying Li, Yong Geng, Yu Qi (2013) về các yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi; công trình của Rex và Baumann (2007) về thị phần sản phẩm nhãn xanh; nghiên cứu của Young và cộng sự về rào cản chuyển hóa từ nhận thức sang hành động của người tiêu dùng Anh; công trình của Kim và Choi (2005), Kollmuss và Agyeman (2002), Bonini và Oppenheim (2008); công trình tiếp cận nhận thức định tính của Sigmund A.; báo cáo của nhóm tác giả ASCEE (2008) về 8 nhóm công cụ chính sách phía cầu thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
- Nghiên cứu trong nước: Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) và các bài viết năm 2015 về ý định và hành vi tiêu dùng xanh; các nghiên cứu mô hình của Vũ Anh Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Ánh và Nguyễn Thu Huyền (2012); các nghiên cứu về mua sắm công xanh của Lương Thị Ngọc Hà (2017), Minh Nguyên (2016), Phạm Thị Phương Hoa (2016) và nghiên cứu tiêu dùng tài nguyên của Nguyễn Danh Sơn (2014).
Thứ ba, nhóm công trình về chính sách tiêu dùng xanh:
- Sách chuyên khảo của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012) về chính sách công và phát triển bền vững; Đề tài cấp bộ của Trần Ngọc Ngoạn (2015) đánh giá tác động của tiêu dùng xanh trong phát triển bền vững và tổng kết kinh nghiệm chính sách của Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan.
Về khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:
- Các công trình trước đây chưa phân tích rõ mối tương quan giữa chính sách tiêu dùng xanh với hệ thống chính sách công và chính sách kinh tế;
- Mối quan hệ giữa ba chủ thể: Chính phủ (quản lý nhà nước), Doanh nghiệp (nhà sản xuất/phân phối) và Người dân (người tiêu dùng) chưa được làm rõ trong một chỉnh thể chính sách công thống nhất;
- Chưa có công trình chuyên biệt nghiên cứu đầy đủ về chu trình chính sách tiêu dùng xanh bao gồm các công đoạn: hoạch định, ban hành khung pháp lý, tổ chức thực hiện và thanh tra, giám sát, đánh giá.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên lý thuyết về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh và vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước để xây dựng khung phân tích:
- Khái niệm kinh tế xanh: Trích dẫn định nghĩa của UNEP (kinh tế giảm thiểu rủi ro môi trường, phát thải thấp, hiệu quả tài nguyên và công bằng xã hội), UNDP, OECD và ESCAP; hệ thống 5 nhân tố của kinh tế xanh và 27 nguyên tắc phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (UNDESA, 2012).
- Khái niệm tiêu dùng xanh: Tác giả xác định tiêu dùng xanh là việc thực hiện một chuỗi các hành vi gồm mua sắm sản phẩm hoặc dịch vụ xanh và sử dụng xanh (tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh, xử lý rác xanh) nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
- Khái niệm chính sách tiêu dùng xanh: Là tên gọi chung của một nhóm các chính sách kinh tế cụ thể để tác động tới lợi ích và hành vi của người tiêu dùng nhằm khuyến khích, thúc đẩy tiêu dùng xanh, hạn chế và thu hẹp tiêu dùng "nâu", góp phần phát triển kinh tế xanh và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Khung phân tích của luận án tiếp cận từ hai phía:
- Phía chủ thể tiêu dùng: Cá nhân/hộ gia đình, doanh nghiệp, cơ quan/tổ chức nhà nước.
- Phía hệ thống chính sách tiêu dùng xanh: Được phân chia thành 4 nhóm chính sách chức năng:
- Nhóm chính sách nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu";
- Nhóm chính sách nhằm ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh (tiêu biểu là mua sắm công xanh);
- Nhóm chính sách nhằm khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh (thuế, giá, tín dụng xanh, hỗ trợ tái chế);
- Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh (tiêu chí dán nhãn sinh thái, nhãn xanh).
Các công cụ thực hiện chính sách bao gồm: thuế, hàng rào kỹ thuật và hành chính. Tiến trình chính sách trải qua 4 giai đoạn: Hoạch định chính sách -> Ban hành khung pháp lý -> Tổ chức thực hiện -> Thanh tra, giám sát. Quá trình này chịu sự chi phối của các yếu tố khách quan (bối cảnh quốc tế, thể chế, trình độ phát triển KT-XH) và yếu tố chủ quan (nhận thức, tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ).
| Nhân tố chính của nền kinh tế xanh |
Nội dung chi tiết theo luận án |
| Năng lượng tái tạo |
Sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo thay thế nguyên liệu hóa thạch, giảm khí nhà kính và ô nhiễm. |
| Hiệu quả năng lượng |
Sử dụng ít năng lượng hơn nhưng vẫn đảm bảo mức cung cấp dịch vụ tương đương thông qua thích ứng công nghệ. |
| Quản lý và tối thiểu hóa rác thải |
Phòng ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, chuyển đổi và xử lý rác thải trong ngưỡng hấp thụ sinh thái. |
| Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên |
Thừa nhận giá trị kinh tế của nguồn vốn tự nhiên (rừng, đất, nước, san hô, hệ sinh thái). |
| Việc làm xanh |
Tạo công việc đảm bảo mức sống, an toàn lao động và bảo vệ chất lượng môi trường. |
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thực thi chính sách, số liệu thống kê tiêu dùng và đấu thầu giai đoạn 2014-2017, tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành.
- Phương pháp định tính: Phỏng vấn sâu cá nhân các đại diện doanh nghiệp sản xuất/phân phối sản phẩm xanh, người tiêu dùng và cán bộ công chức quản lý nhà nước; quan sát có sự tham gia và không có sự tham gia tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng chuyên dụng; phương pháp so sánh quốc tế.
- Phương pháp định lượng: Điều tra khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn trên 3 nhóm khách thể với tổng dung lượng mẫu là 1.005 phiếu:
| Khách thể điều tra khảo sát |
Số lượng mẫu (phiếu) |
| Người dân (Người tiêu dùng cá nhân/hộ gia đình) |
480 |
| Cán bộ trong các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ |
205 |
| Cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước |
320 |
| Tổng số mẫu điều tra |
1.005 |
- Công cụ xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS và phần mềm Microsoft Excel để xử lý, tổng hợp và phân tích dữ liệu điều tra xã hội học và số liệu thứ cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách tiêu dùng xanh
Chương này trình bày chi tiết bức tranh tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế xoay quanh ba trục nội dung: kinh tế xanh/tăng trưởng xanh, hành vi người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh và các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trên thế giới đã xác lập được nền tảng lý thuyết vững chắc về hành vi tiêu dùng xanh (mô hình Ajzen, Rylander và Allen, các nghiên cứu của ASCEE, UNEP, World Bank). Tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc mô tả nhận thức, ý định tiêu dùng hoặc nghiên cứu tăng trưởng xanh ở tầm vĩ mô nói chung. Từ việc xác định các khoảng trống về mặt lý thuyết và thực tiễn, tác giả thiết lập mục tiêu nghiên cứu, hệ thống câu hỏi nghiên cứu, xác định phạm vi nội dung tập trung vào tiêu dùng công và tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình từ năm 2012 đến 2030, đồng thời xây dựng khung phân tích chính sách và lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp khảo sát 1.005 mẫu thực chứng.
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách tiêu dùng xanh trong phát triển kinh tế xanh
Chương 2 làm rõ các khái niệm tảng nền về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, tiêu dùng xanh và chính sách tiêu dùng xanh. Tác giả phân tích tiến trình chuyển dịch từ mô hình "tiêu dùng nâu" (tiêu tốn nhiều tài nguyên, phát thải lớn, hủy hoại môi trường) sang mô hình "tiêu dùng xanh" hướng tới tiêu dùng bền vững, đồng thời khẳng định tiêu dùng xanh đóng vai trò quan trọng đối với khu vực công (giảm chi phí xử lý ô nhiễm, định hướng thị trường), khu vực tư nhân (giảm phí tuân thủ môi trường, tiết kiệm tài nguyên) và doanh nghiệp (tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nâng cao thương hiệu).
Chương này cũng phân loại hệ thống chính sách tiêu dùng xanh theo các tiêu chí: theo chủ thể tác động (cá nhân và tập thể), theo công năng công cụ (công cụ tài chính/giá cả và công cụ kỹ thuật), theo chuỗi hành vi (mua sắm xanh, sử dụng xanh, hạn chế sử dụng sản phẩm nâu) và theo mục tiêu tổng quát thành 4 nhóm chính sách lớn:
| Nhóm chính sách |
Mục tiêu và công cụ điều chỉnh chủ yếu |
| 1. Hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu" |
Thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, xóa bỏ trợ giá nhiên liệu hóa thạch, biểu giá bậc thang cho điện và nước. |
| 2. Ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh |
Quy định mua sắm công xanh bắt buộc trong cơ quan nhà nước; quy hoạch hệ thống phân phối sản phẩm xanh, trạm sạc, năng lượng sạch. |
| 3. Khuyến khích, hỗ trợ tiêu dùng xanh |
Thuế ưu đãi sản phẩm xanh, tín dụng xanh tiêu dùng, trợ giá sản phẩm dán nhãn sinh thái, cơ chế hỗ trợ tái chế rác thải. |
| 4. Bảo vệ người tiêu dùng xanh |
Quy chuẩn kỹ thuật, cấp chứng nhận nhãn sinh thái (Green Label), nhãn năng lượng, minh bạch thông tin nguồn gốc sản phẩm. |
Tác giả cũng phân tích các yếu tố tác động đến chu trình hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời phân tích bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới trong việc áp dụng mua sắm công xanh, thuế sinh thái và nhãn năng lượng.
Chương 3: Thực trạng chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng tiêu dùng và hệ thống chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2012 đến thời điểm nghiên cứu (2019):
- Khái quát thực trạng tiêu dùng: Tổng hợp số liệu tiêu dùng cuối cùng của nền kinh tế giai đoạn 2014-2017, số lượng các đơn vị hành chính sự nghiệp tham gia chi tiêu công, thực trạng hoạt động đấu thầu mua sắm công và các nhóm hàng hóa tiêu dùng chính của hộ gia đình.
- Phân tích 4 nhóm chính sách thực tế tại Việt Nam:
- Nhóm chính sách hạn chế sản phẩm "nâu": Đánh giá việc áp dụng Luật Thuế Bảo vệ môi trường (biểu khung thuế và mức thu đối với xăng dầu, túi nilon khó phân hủy, than đá), Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt và các sắc thuế tài nguyên dầu thô, khí đốt; chỉ rõ lộ trình cắt giảm trợ cấp nhiên liệu hóa thạch và các mục tiêu phát thải các-bon thấp.
- Nhóm chính sách ràng buộc tiêu dùng xanh: Đánh giá việc lồng ghép tiêu chí xanh trong Luật Đấu thầu và mua sắm công, nhận diện thực trạng mua sắm công tại các bộ, ngành và địa phương còn mang tính hình thức, thiếu chế tài cụ thể.
- Nhóm chính sách khuyến khích, hỗ trợ tiêu dùng xanh: Đánh giá các chương trình tín dụng xanh của Ngân hàng Nhà nước, các chính sách ưu đãi giá điện mặt trời, điện gió và các chính sách thúc đẩy tái chế chất thải.
- Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh: Đánh giá chương trình cấp Nhãn sinh thái Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Nhãn năng lượng (Bộ Công Thương) và kế hoạch ban hành tiêu chí nhãn xanh cho các ngành hàng.
Về đánh giá chung, tác giả chỉ ra các kết quả bước đầu: Hệ thống văn bản pháp luật từng bước được bổ sung, nhận thức xã hội về tiêu dùng xanh có chuyển biến, một số sản phẩm xanh và nhãn sinh thái đã được cấp phép lưu hành. Tuy nhiên, các hạn chế lớn gồm có: Chính sách còn phân tán, thiếu tính đồng bộ; thiếu chế tài bắt buộc đối với mua sắm công xanh; công cụ thuế môi trường chưa đủ mạnh để điều chỉnh hành vi tiêu dùng; chi phí sản phẩm xanh còn cao; nguồn lực thực thi và thanh tra giám sát còn yếu.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đến năm 2030
Chương 4 phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, xác định quan điểm và phương hướng hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam đến năm 2030, tập trung vào 3 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Rà soát, hệ thống hóa toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách liên quan đến tiêu dùng xanh nhằm loại bỏ các quy định chồng chéo, không còn phù hợp.
- Hoàn thiện khung thể chế và công cụ chính sách cho tiêu dùng xanh: Thể chế hóa quy định bắt buộc về tỷ lệ mua sắm công xanh trong các cơ quan nhà nước; điều chỉnh khung thuế bảo vệ môi trường theo hướng lũy tiến đối với hàng hóa gây ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế tín dụng xanh và hỗ trợ giá cho các sản phẩm công nghệ sạch, vật liệu thân thiện môi trường; chuẩn hóa và mở rộng danh mục cấp chứng nhận nhãn sinh thái Việt Nam.
- Nâng cao hiệu quả quá trình tổ chức thực thi và giám sát chính sách: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng sản phẩm xanh; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu dùng xanh; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tác giả đồng thời đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho từng bộ, ngành liên quan.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ nội hàm khái niệm tiêu dùng xanh dưới góc độ quản lý kinh tế và chính sách công, phân biệt rõ tiêu dùng xanh với tiêu dùng nâu và tiêu dùng bền vững. Tiêu dùng xanh được xác định là một chuỗi hành vi hoàn chỉnh từ mua sắm đến sử dụng, tiết kiệm, tái chế và thải loại.
- Xây dựng khung lý thuyết và phân loại hoàn chỉnh hệ thống chính sách tiêu dùng xanh thành 4 nhóm chức năng (hạn chế sản phẩm nâu, ràng buộc tiêu dùng xanh, khuyến khích/hỗ trợ tiêu dùng xanh, bảo vệ người tiêu dùng xanh) tương ứng với 4 nhóm công cụ chính sách (thuế, giá/tín dụng, hành chính, kỹ thuật) và mô hình hóa mối quan hệ tương tác giữa ba chủ thể: Nhà nước - Doanh nghiệp - Người dân trong chu trình chính sách công.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng chính sách và thực thi chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam giai đoạn 2012-2019 thông qua phân tích dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát 1.005 mẫu (480 người dân, 205 cán bộ doanh nghiệp, 320 công chức nhà nước).
- Phát hiện và chỉ rõ các điểm nghẽn thực tế: Quy định mua sắm công xanh chưa có tính pháp lý bắt buộc; chính sách thuế bảo vệ môi trường chưa tạo được tác động thay thế tiêu dùng mạnh mẽ; quy trình cấp nhãn sinh thái còn chậm và phạm vi sản phẩm được dán nhãn còn hẹp; rào cản chi phí và thông tin gây cản trở hành vi tiêu dùng xanh của người dân.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và khuyến nghị chính sách đồng bộ, khả thi đến năm 2030 cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy kinh tế xanh và chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào chính sách chi tiêu công xanh (tiêu dùng của chính phủ) và chính sách tiêu dùng xanh của dân cư (tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình), do đó chưa nghiên cứu sâu chính sách tiêu dùng xanh trong khu vực sản xuất (tiêu dùng trung gian của các doanh nghiệp). Bên cạnh đó, số liệu khảo sát thực địa được thu thập tại một số nhóm đối tượng và địa bàn đại diện, chưa bao quát toàn bộ các vùng sinh thái kinh tế trên phạm vi cả nước.
Về hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu chính sách tiêu dùng xanh đối với nhóm tiêu dùng trung gian trong các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến và nông nghiệp; mở rộng quy mô điều tra xã hội học trên phạm vi toàn quốc; nghiên cứu định lượng sâu hơn về tác động kinh tế lượng của các công cụ thuế môi trường và trợ cấp sinh thái đối với sự thay đổi hành vi tiêu dùng dài hạn.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương): Tham khảo Chương 3 và Chương 4 để rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về đấu thầu mua sắm công, hoàn thiện biểu thuế bảo vệ môi trường và ban hành tiêu chí nhãn sinh thái quốc gia.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế môi trường, Chính sách công: Tham khảo Chương 1 và Chương 2 về khung lý thuyết chính sách tiêu dùng xanh, hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế xanh của FAO và phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng.
- Các doanh nghiệp sản xuất và phân phối: Tham khảo để nắm bắt xu hướng chính sách tiêu dùng xanh, các tiêu chuẩn nhãn sinh thái và các cơ chế tín dụng xanh nhằm tái cơ cấu sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "Tiêu dùng xanh" như thế nào?
Tiêu dùng xanh được định nghĩa là việc thực hiện một chuỗi các hành vi gồm mua sắm sản phẩm hoặc dịch vụ xanh và sử dụng xanh (tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh, xử lý rác xanh) nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
2. Khung chính sách tiêu dùng xanh trong luận án gồm những nhóm nào?
Luận án phân loại chính sách tiêu dùng xanh thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm chính sách nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu"; (2) Nhóm chính sách nhằm ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh; (3) Nhóm chính sách nhằm khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh; (4) Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh.
3. Quy mô mẫu khảo sát thực nghiệm của đề tài được thực hiện như thế nào?
Tác giả tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với tổng số 1.005 phiếu, phân bổ cụ thể: 480 phiếu đối với người dân (người tiêu dùng cá nhân/hộ gia đình), 205 phiếu đối với cán bộ trong các doanh nghiệp và 320 phiếu đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước.
4. Luận án chỉ ra điểm hạn chế căn bản nào trong chính sách mua sắm công xanh tại Việt Nam?
Chính sách chi tiêu, mua sắm công của Chính phủ chưa đảm bảo sự đồng bộ theo xu hướng mua sắm xanh, thiếu các chế tài ràng buộc và chính sách bắt buộc khuyến khích mua sắm các sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường trong hoạt động chi tiêu công của các cơ quan nhà nước.
5. Luận án sử dụng những công cụ và phần mềm nào để xử lý dữ liệu?
Nghiên cứu sử dụng phần mềm thống kê SPSS và Microsoft Excel để tổng hợp, phân tích dữ liệu điều tra sơ cấp và số liệu thống kê kinh tế.
Kết luận
Luận án "Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Gia Thọ là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiêu dùng xanh dưới giác độ quản lý kinh tế và chính sách công. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung phân tích 4 nhóm chính sách chức năng và đánh giá thực trạng thực thi chính sách tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2012. Trên cơ sở phân tích dữ liệu thứ cấp và khảo sát 1.005 mẫu thực chứng, luận án đã chỉ rõ các thành tựu, rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đến năm 2030.