phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài Luận án, Danh mục tài liệu tham khảo. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN GIẢI QUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.
Các công trình nghiên cứu về quyền con người, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tố cáo, quyền tố cáo và việc xử lý, giải quyết tố cáo Ở Việt Nam, thời gian qua có nhiều tác giả, giáo trình, công trình nghiên cứu về quyền con người, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, về tố cáo, quyền tố cáo và việc xử lý, giải quyết tố cáo, dưới đây là một số công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án: - Võ Khánh Vinh, chủ biên (2015), Quyền con người, Giáo trình sau đại học - Học viện Khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 491 trang [158]. Qua Giáo trình này, tác giả Luận án nắm được khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và bản chất của quyền con người; quyền con người trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý; quy chế pháp lý về quyền con người và quyền công dân; quốc tịch; cơ cấu quyền con người và quyền công dân; mối quan hệ giữa quyền con người và chính trị, đạo đức; quyền con người và Nhà nước pháp quyền. Cơ chế pháp lý quốc gia bảo vệ quyền con người: bảo vệ quyền con người bằng Tòa án; bảo vệ quyền con người bằng các hình thức pháp lý hành chính; các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong trật tự nhà nước pháp quyền ở nước ngoài; bảo đảm quyền con người bằng các tổ chức xã hội tự quản trong các đơn vị dân cư truyền thống ở Việt Nam. Giáo trình còn giúp hiểu rõ những vấn đề có liên quan đến cơ chế pháp lý quốc tế bảo vệ quyền con người, như: quyền con người và sự phát triển của Luật quốc tế; chức năng giám sát của Liên hợp quốc trong lĩnh vực quyền con người; hợp tác khu vực về quyền con người; trách nhiệm đối với việc vi phạm quyền con người…Giáo trình không những trang bị một cách có hệ thống những tri thức lý luận về quyền con người mà còn cung 8 cấp cho tác giả Luận án phương pháp luận để tiếp cận và nghiên cứu vấn đề bảo vệ người tố cáo theo pháp luật hành chính trên cơ sở lý thuyết về quyền và bảo vệ quyền.
- Võ Khánh Vinh, chủ biên (2011), Cơ chế đảm bảo và bảo vệ quyền con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 431 trang [157]. Cuốn sách đã nghiên cứu, đưa ra được nhận thức chung về cơ chế đảm bảo, bảo vệ quyền con người, các yếu tố tác động đến cơ chế đảm bảo, bảo vệ quyền con người; cơ chế bảo đảm, bảo vệ nhân quyền của Liên hợp quốc và của một số khu vực; cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam; cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong một số lĩnh vực cụ thể, cho những nhóm người cụ thể. Cuốn sách đã giúp tác giả Luận án hiểu thêm những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thấy được cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người không chỉ là cơ chế mang tính nhà nước mà còn bao gồm cả cơ chế mang tính xã hội (cơ chế xã hội). Những cơ chế này được cấu thành từ hai yếu tố chính là thể chế và thiết chế.
Bảo đảm, bảo vệ quyền con người cũng được thực hiện hiện theo các cấp độ khác nhau, toàn cầu, khu vực và từng quốc gia. Ở nước ta, về mặt thể chế, Nhà nước đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật về các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Về mặt thiết chế, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đã ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở nước ta đã phản ánh ý nguyện của các tầng lớp nhân dân về bảo đảm, bảo vệ quyền con người và phát huy vai trò giám sát việc thực hiện quyền con người của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức.
Trên cơ sở đó, giúp cho Luận án đi sâu nghiên cứu vấn đề bảo vệ người tố cáo theo pháp luật hành chính dưới góc độ lý luận về quyền và bảo vệ quyền. - Lê Tiến Hào - Nguyễn Quốc Hiệp (2012), Khiếu nại, tố cáo (KN, TC) và giải quyết KN, TC hành chính ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội [60]. Cuốn sách đã nghiên cứu, làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính ở nước ta hiện nay. Trong 9 đó, đi sâu luận giải quan niệm về tố cáo hành chính, thao tác hóa khái niệm tố cáo hành chính, xác định rõ: “Tố cáo hành chính là việc công dân báo cho cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước biết hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đó khi cho rằng hành vi đó vi phạm pháp luật cần phải ngăn chặn, xử lý kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của công dân”.
Trên cơ sở đó, cuốn sách phân tích, nêu rõ những điểm phân biệt tố cáo hành chính với khiếu nại hành chính; đặc điểm, vai trò của công tác giải quyết tố cáo hành chính. Cuốn sách cũng phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về tố cáo hành chính ở Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt đã chỉ ra những bước tiến, sự phát triển trong các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo. Đồng thời, cũng nêu lên những yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về tố cáo trong thời gian tới, mà một trong số đó là thực hiện có hiệu quả pháp luật về bảo vệ người tố cáo. Có thể nói, những nội dung của cuốn sách về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính có ý nghĩa tham khảo rất bổ ích, thiết thực, giúp Luận án kế thừa và nghiên cứu, làm rõ những khía cạnh có liên quan đến vấn đề bảo vệ người tố cáo.
- Lê Bình Vọng (1998), Quyền KN, TC của công dân qua các Hiến pháp Việt Nam, Tạp chí Thanh tra số tháng 4/1998 [58]. Bài viết đã phân tích sự phát triển của quy định Hiến pháp về quyền KN, TC của công dân từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992, thông qua một số nhận định có tính khái quát sâu sắc, đó là: (1) Hiến pháp 1946 thiết lập một thể chế dân chủ - nền tảng cơ bản hình thành quyền KN, TC của công dân; (2) Quyền KN, TC của công dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp 1959; (3) Hiến pháp 1980 tiếp tục cụ thể hóa quyền KN, TC; (4) Hiến pháp năm 1992 hoàn thiện thêm một bước quyền KN, TC của công dân. Những nội dung của bài viết cung cấp cơ sở lý luận về quyền tố cáo, phục vụ quan trọng cho việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án. - Phạm Hồng Thái (2016), Một số vấn đề về KN, TC và pháp luật về KN, TC, Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về KN, TC ở nước ta hiện nay”, 10 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) - Ban Dân nguyện thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) [84].
Phân tích về tố cáo và quyền tố cáo, tham luận rút ra nhận xét: với tư cách là quyền của con người, công dân, quyền tố cáo được hiểu là khả năng của công dân thực hiện các hành vi (thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau) phát hiện và thông báo chính thức cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về mọi việc làm vi phạm pháp luật.Tố cáo thể hiện rất rõ nét tính tích cực chính trị, ý thức, trách nhiệm của công dân trong đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật. Trên cơ sở những phân tích đó, tác giả tham luận cho rằng, để kích thích tính tích cực chính trị của nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội thì không nên có những quy định mang tính truy xét người tố cáo. - Chu Hồng Thanh (2016), Hoàn thiện pháp luật về KN, TC phù hợp cách tiếp cận dựa trên quyền con người, Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về KN, TC ở nước ta hiện nay”, Khoa Luật, ĐHQGHN - Ban Dân nguyện UBTVQH [39]. Tiếp cận dựa trên quyền con người, tác giả bài viết cho rằng, cần nhận thức rõ: KN, TC là quyền của con người, giải quyết KN, TC là trách nhiệm của Nhà nước.
Việc phân chia thành khiếu nại và tố cáo chủ yếu là để thuận tiện cho xử lý, không có nhiều ý nghĩa đối với thực hiện quyền của người dân khi phát hiện hành vi trái pháp luật thì phản ánh. Bài viết cũng đi đến kết luận: phù hợp với cách tiếp cận dựa trên quyền con người thì bảo vệ người KN, TC bao gồm cả việc bảo vệ thông tin, bảo vệ tính mạng, tài sản, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, không chỉ bảo vệ người tố cáo mà cả các quan hệ thân thích của người tố cáo, ở nơi cư trú, ở nơi làm việc và ở nơi có tài sản. - Nguyễn Thùy Dương (2016), Bảo đảm quyền KN, TC theo pháp luật Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện pháp luật về KN, TC ở nước ta hiện nay”, Khoa Luật, ĐHQGHN - Ban Dân nguyện UBTVQH [80]. Bài viết đã phân tích vấn đề bảo đảm quyền KN, TC trên 2 khía cạnh: bảo đảm quyền KN, TC theo quy định trong Hiến pháp và pháp luật; và bảo đảm quyền KN, TC thông 11 qua hoạt động của các cơ quan hữu quan.
Để trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị về hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền KN, TC theo tinh thần Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Trong đó có việc các cơ quan, tổ chức có liên quan phải xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy trình nghiệp vụ về tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo, nhất là phải nêu cao trách nhiệm cá nhân trong việc bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo.