CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Nghiên cứu về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới góc độ của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, chính trị học, dân tộc học, xã hội học. Liên quan trực tiếp đến đề tài có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau: 1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1.
Nghiên cứu về chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước Cuốn sách, Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [48]. Tác giả đã đánh giá về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề cấp bách ở vùng dân tộc và miền núi, tác giả đã đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Cuốn sách, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc [105] đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Tây Bắc những năm đầu đổi mới.
Cuốn sách: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta [54] đã đề cập đến những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc. Các tác giả đã nêu những đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam và nội dung công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng. Cuốn sách, Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc của Đảng và những định 8 hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc. Bài viết, "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" [97], trong cuốn sách 60 năm cơ quan công tác dân tộc, đã đánh giá về đội ngũ cán bộ dân tộc trong những năm qua.
Bài viết khẳng định: Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng. Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản lý nhà nước ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở tất cả các cấp được nâng lên. Tác giả chỉ rõ "tỉ lệ đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số qua các khóa ngày một tăng từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa XI. Ủy viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9% khóa X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp" [97, tr.
Bên cạnh những kết quả đạt được, bài viết còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là "Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương [97, tr. Từ phân tích trên, tác giả chỉ ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006). Trong đó, bài học đáng chú ý là "Kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống chính trị chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số" [97, tr. Cuốn sách, Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX [12], là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học đã tham gia 9 thảo luận, trao đổi, làm rõ kết quả, hạn chế yếu kém, đề xuất các giải pháp góp phần đổi mới thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX về công tác dân tộc của Đảng.
Cuốn sách, Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay [104] đã nêu rõ những nội dung cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân tộc và đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện chính sách dân tộc hiện nay. Cuốn sách, Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp [112] đã nghiên cứu, khảo sát nhằm mang lại những thông tin khách quan, trung thực về tình trạng này. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, công trình nghiên cứu đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm góp phần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò to lớn của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu cho thấy, sự đồng tình của người dân với chính sách được triển khai ở địa phương về "ưu tiên đào tạo cán bộ địa phương là người dân tộc" là 72,2%, "ưu tiên đào tạo thầy giáo, cô giáo, cán bộ y tế là người dân tộc" là 70,2%" [112 tr.
Cuốn sách: Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh [69], đã đề cập đến vấn đề: Trong nghiên cứu lý luận cách mạng, vấn đề dân tộc còn rất phong phú, còn phải bàn thêm. Nói riêng từng nước thì vấn đề dân tộc nổi lên là vấn đề số phận của từng tộc người trong cộng đồng dân tộc, của mỗi quốc gia. Tác giả khẳng định: Hồ Chí Minh thấy được phẩm chất, trình độ của các tộc người của đất nước ta, bởi Người thực sự gắn bó với bà 10 con người dân tộc thiểu số. Vì vậy, với Hồ Chí Minh, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng nhau, tất cả đều như anh chị em một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói.
Công trình: Báo cáo tổng hợp về nghiên cứu chính sách phát triển vùng miền núi và dân tộc thiểu số [60] và Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [25] đã đánh giá nguồn nhân lực không nghiên cứu riêng biệt, mà được đặt trong mối quan hệ tương hỗ với sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt là những nghiên cứu về giáo dục y tế, xóa đói giảm nghèo, lao động việc làm thường được đặt trong các mối liên hệ trực tiếp với phát triển thể lực, trí lực của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Bài viết: "Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng sau 25 năm đổi mới" [52], đã khái quát toàn bộ chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc đã và đang được thực hiện trong 25 năm đổi mới được thể hiện trong những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết tiếp tục khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Sự quan tâm về vấn đề dân tộc, về chính sách dân tộc không chỉ ở phần nhận thức, phần lý luận, mà nó phải được thể hiện bằng đường lối, bằng tổ chức. Đúng như tinh thần Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Người" chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam". Bài viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam" [53] theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đoàn kết dân tộc đặng "đi từ thái bình để cùng hưởng chung". Hồ Chí Minh cũng 11 cho rằng, đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không phải là một thủ đoạn chính trị, mị dân, do đó, phải thực lòng thực hành đoàn kết để đi từ mục tiêu chung là "hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh".
Người coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam. Với những nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, tác giả bài viết khẳng định: Trong tiến trình cách mạng nước ta, cần giải quyết đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là: Phải luôn coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, khai thông sức sáng tạo và tiềm năng của đồng bào các dân tộc. Bằng các chủ trương chính sách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước.