Tổng quan luận án

Công tác cán bộ dân tộc thiểu số giữ vị trí trọng yếu trong chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa bảo đảm quyền tham chính của đồng bào các dân tộc, vừa tạo nguồn lực nội sinh thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại vùng miền núi. Xuất phát từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ “là gốc của mọi công việc”, việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số bảo đảm cho đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực thi hiệu quả tại cơ sở.

Theo trình bày của tác giả Lý Thị Thu, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tại Việt Nam nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng bộc lộ những hạn chế: số lượng cán bộ còn ít so với tỷ lệ dân số; trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị thấp hơn mặt bằng chung; cơ cấu giữa các dân tộc, cơ cấu giới tính và cơ cấu lĩnh vực công tác thiếu cân đối. Thực tiễn công tác cán bộ tại Tuyên Quang tồn tại các mâu thuẫn cơ bản: giữa yêu cầu tăng số lượng với việc bảo đảm chất lượng; giữa nhu cầu đào tạo lớn với ngân sách đầu tư có hạn; giữa sử dụng nhân lực tại chỗ với thu hút cán bộ từ nơi khác; giữa khâu đào tạo và khâu bố trí, luân chuyển sử dụng. Việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với công tác này là cần thiết nhằm tổng kết thực tiễn và rút ra bài học kinh nghiệm.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010; bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn giai đoạn này.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010.
  2. Làm rõ những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong 20 năm, từ năm 1991 đến năm 2010.
  3. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những kết quả đạt được; đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về thời gian: Từ tháng 10 năm 1991 (thời điểm tái lập tỉnh Tuyên Quang từ tỉnh Hà Tuyên) đến năm 2010 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIV, chuẩn bị triển khai đường lối Đại hội lần thứ XI của Đảng).
  • Về không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Tuyên Quang, bao gồm 1 thị xã (thị xã Tuyên Quang) và 6 huyện.
  • Về nội dung: Nghiên cứu đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cơ sở, trọng tâm là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; bám sát các khâu: quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm trong nước và 1 nhóm công trình quốc tế:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc và công tác dân tộc: Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi [48] đánh giá thực trạng vùng dân tộc và đề xuất quan điểm chính sách thời kỳ đổi mới. Tác phẩm Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc [105] phân tích thành tựu, hạn chế ở vùng Tây Bắc những năm đầu đổi mới. Sách Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta [54] và Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng quy hoạch dân cư, phát triển kinh tế hàng hóa. Bài viết "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" [97] cung cấp số liệu đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số tăng từ 10,2% (khóa I) lên 17,2% (khóa XI), Ủy viên Trung ương Đảng khóa X chiếm gần 9%. Công trình điều tra xã hội học [112] phản ánh tỷ lệ đồng thuận của người dân vùng dân tộc: 72,2% ủng hộ ưu tiên đào tạo cán bộ địa phương, 70,2% ủng hộ ưu tiên đào tạo giáo viên và nhân viên y tế. Tác phẩm Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh [69], các báo cáo [60], [25], bài viết [52], [53] và luận án tiến sĩ [63] (nghiên cứu vùng Tây Bắc giai đoạn 1996 - 2006) phân tích sâu tư tưởng đoàn kết và bình đẳng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhóm thứ hai gồm các công trình về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung: Cuốn sách Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI - XIX) [130] tổng kết bài học lịch sử về chính sách "Nhu viễn" kết hợp biện pháp trấn áp khi cần thiết để quản lý vùng biên. Sách Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp [111] (tập hợp 34 nhà khoa học) và các công trình [108], [117], [98], [20], [66] làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nguồn cán bộ và công tác quy hoạch diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Các bài viết thực tiễn gồm bài [131], bài [51] về sự phát triển giáo dục, bài [34] về đào tạo cán bộ cơ sở tại Hà Giang, bài [119] về quy hoạch cán bộ Khmer tại Sóc Trăng. Các luận án tiến sĩ tiêu biểu gồm công trình của tác giả [118] về cán bộ dân tộc thiểu số Bộ đội biên phòng (1996 - 2006), tác giả [138] về tạo nguồn cán bộ xã tại Tây Nguyên, tác giả [65] về đào tạo công chức (2001 - 2010). Các đề tài khoa học cấp bộ gồm [122] (cán bộ cấp huyện miền núi phía Bắc), [71] (thực hiện chính sách đào tạo, sử dụng), [58] (tạo nguồn cán bộ cơ sở Tây Bắc), [72], [120].

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang: Cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (giai đoạn 1976 - 2005) [9] tổng kết bài học về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở và coi trọng cán bộ tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số. Các sách Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang (1940 - 2008) [3], Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (1940 - 2005) [2] (ghi nhận Chiêm Hóa có 138.657 người thuộc 22 dân tộc năm 2005), cuốn Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang 50 năm xây dựng và phát triển [115] và tài liệu văn hóa [49] phân tích phong tục tập quán của các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu.

Nhóm nghiên cứu của nước ngoài gồm các công trình [31], [87], công trình Rethinking Approaches to Ethnic Minority Development, the Case of Vietnam [139], cùng các văn bản chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) [88] và Ngân hàng Thế giới (WB). Các nghiên cứu này chỉ ra nguy cơ áp đặt ý chí từ phía quản lý nhà nước nếu không chú trọng nâng cao năng lực nội sinh của người dân tộc thiểu số.

Về vị trí của luận án: Các công trình nêu trên đã giải quyết từng khâu nghiệp vụ riêng lẻ hoặc nghiên cứu ở phạm vi vùng, ngành. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào khảo cứu một cách toàn diện, độc lập và có hệ thống về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong toàn bộ giai đoạn 1991 - 2010. Luận án tập trung giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ và chính sách dân tộc. Tác giả vận dụng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là “cái dây chuyền của bộ máy”, “là gốc của mọi công việc”, huấn luyện cán bộ là “công việc gốc của Đảng”; đồng thời dẫn quan điểm của V.I. Lênin về việc then chốt là tìm kiếm những cán bộ có bản lĩnh nhằm bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Luận án làm rõ các khái niệm công cụ:

  • Cán bộ: Là thuật ngữ xuất hiện ở Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX, ban đầu phân biệt chỉ huy với chiến sĩ trong quân đội, sau chỉ người thoát ly kháng chiến. Trong khoa học quản lý hành chính, cán bộ chỉ những người công tác trong hệ thống chính trị hưởng lương từ ngạch cán sự trở lên, chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh cán bộ, công chức.
  • Dân tộc thiểu số: Luận án phân biệt với thuật ngữ "người bản địa" của WB, ADB. Tại Việt Nam, 54 dân tộc đều sinh sống lâu đời; theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng dân số cả nước là 85.846.997 người, người Kinh chiếm 85,73% (dân tộc đa số), 53 dân tộc còn lại chiếm 14,27% (các dân tộc thiểu số). Một dân tộc được xác định là thiểu số khi so sánh trên quy mô toàn quốc, dù tại địa phương cụ thể họ có thể chiếm đa số.
  • Cán bộ dân tộc thiểu số: Là khái niệm kép, chỉ những người công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân là người dân tộc thiểu số, có quyền hạn, trách nhiệm được giao và phục vụ lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Khái niệm này đồng nghĩa với cụm từ "cán bộ là người dân tộc thiểu số".
  • Hệ thống chính sách dân tộc dựa trên 3 nguyên tắc nền tảng: bình đẳng, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc; phát huy tiềm năng, nhân lực, vật lực của các vùng miền vì sự nghiệp chung; xác định cán bộ dân tộc thiểu số là lực lượng xung kích và là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc.

Cơ sở thực tiễn của luận án là văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, các cơ quan ban ngành, đoàn thể tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010; cùng kết quả điều tra, khảo sát thực tế tại các địa phương trong tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu gồm:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Giữ vai trò chủ đạo, phản ánh tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh theo trình tự thời gian gắn với phân tích bản chất, quy luật vận động của công tác cán bộ qua hai giai đoạn 1991 - 2000 và 2001 - 2010.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thu thập, thẩm định và đánh giá hệ thống tư liệu văn kiện của Trung ương và địa phương.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Tuyên Quang với một số tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và lượng hóa các dữ liệu, báo cáo kiểm kê cán bộ và kết quả khảo sát thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia các tài liệu thành 3 nhóm trong nước (nhóm nghiên cứu đường lối, chính sách dân tộc; nhóm nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ công tác cán bộ dân tộc thiểu số; nhóm nghiên cứu lịch sử Đảng bộ và tình hình Tuyên Quang) và nhóm các nghiên cứu quốc tế. Qua việc đánh giá thành tựu của các học giả đi trước, tác giả xác định những kết quả nghiên cứu đã được giải quyết và chỉ rõ khoảng trống khoa học: chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010. Từ đó, chương 1 xác định các nhiệm vụ cụ thể mà luận án cần tập trung làm sáng tỏ.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2000

Chương 2 trình bày các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến công tác cán bộ dân tộc thiểu số tại địa phương:

  • Điều kiện tự nhiên và địa lý: Tuyên Quang có diện tích rừng núi chiếm khoảng 4/5 diện tích toàn tỉnh; địa hình hiểm trở, chia cắt phức tạp. Phía Bắc giáp Hà Giang (151 km), phía Nam giáp Phú Thọ và Vĩnh Phúc (80 km), phía Đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên (171 km), phía Tây giáp Yên Bái (80 km). Hệ thống sông ngòi gồm sông Lô, sông Gâm, sông Chảy, sông Năng, sông Phó Đáy. Giao thông đường bộ dựa vào Quốc lộ 2 (dài trên 300 km), đường 13A, đường 12, đường 11. Nhiệt độ trung bình 16°C, mùa đông có nơi xuống 1-2°C.
  • Đặc điểm kinh tế: Kinh tế chậm phát triển, công nghiệp chỉ chiếm 14% giá trị tổng sản phẩm xã hội, đời sống đồng bào vùng sâu vùng xa còn nghèo nàn, nhiều vùng còn tự cung tự cấp.
  • Đặc điểm xã hội và dân cư: Năm 1991, Tuyên Quang có 596.679 người, mật độ khoảng 100 người/km2, gồm 22 dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, H'Mông, Cao Lan, Sán Dìu, Cờ Lao, Pà Thẻn, La Chí, Pu Péo, Lô Lô, Bố Y, Dao, Hoa, Giấy, Mường...). Người Tày và người Kinh chiếm số đông; vùng cao dân cư thưa thớt, trình độ dân trí còn thấp.
  • Tình hình an ninh, tôn giáo: Cuối thế kỷ XX, địa bàn xuất hiện hiện tượng tà đạo "Tổ chức tín ngưỡng Dương Văn Minh" lôi kéo đồng bào H'Mông khiếu kiện, gây mất ổn định an ninh trật tự, đòi hỏi chính quyền phải tăng cường cán bộ người dân tộc để vận động quần chúng.
  • Thực trạng trước năm 1991: Thời kỳ sáp nhập tỉnh Hà Tuyên (1976 - 1991), công tác cán bộ dân tộc thiểu số thiếu kế hoạch dài hạn; từng có thời kỳ hiểu sai lệch về thành phần giai cấp, loại bỏ những người thuộc tầng lớp trên có uy tín. Cán bộ dân tộc thiểu số chủ yếu là người Tày; cán bộ thuộc các dân tộc Dao, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu rất ít; các vị trí chủ chốt cấp tỉnh, huyện phần lớn do cán bộ miền xuôi đảm nhiệm.
  • Chủ trương và chỉ đạo của Tỉnh ủy: Sau khi tái lập tỉnh tháng 10 năm 1991, Đảng bộ tỉnh xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm; ban hành các chủ trương quy hoạch, tạo nguồn cử tuyển học sinh dân tộc vào các trường chuyên nghiệp, tổ chức các lớp đào tạo lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ tại Trường Chính trị tỉnh; bước đầu bố trí cán bộ dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy và bộ máy chính quyền các cấp.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số cơ bản về địa bàn tỉnh Tuyên Quang ghi nhận trong văn bản luận án:

Tiêu chí Số liệu ghi nhận trong văn bản
Tỷ lệ địa hình rừng núi Chiếm khoảng 4/5 diện tích tự nhiên
Đường ranh giới tiếp giáp Giáp Hà Giang (151 km); Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên (171 km); Phú Thọ, Vĩnh Phúc (80 km); Yên Bái (80 km)
Tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội Chiếm 14%
Dân số toàn tỉnh năm 1991 596.679 người
Mật độ dân số trung bình năm 1991 Khoảng 100 người/km2
Số lượng các dân tộc cùng sinh sống 22 dân tộc
Nhiệt độ trung bình / Nhiệt độ thấp nhất mùa đông 16°C / 1°C đến 2°C
Chiều dài tuyến Quốc lộ 2 qua địa bàn Dài hơn 300 km

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010

Chương 3 phân tích bước chuyển trong phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh sau khi Trung ương ban hành các nghị quyết mới, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc:

  • Quan điểm và chủ trương đổi mới: Tỉnh ủy Tuyên Quang ban hành các đề án, nghị quyết chuyên đề nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức cơ sở; gắn quy hoạch với đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh; thực hiện quy hoạch động và mở.
  • Chỉ đạo các khâu nghiệp vụ:
    • Tạo nguồn và tuyển dụng: Đẩy mạnh chính sách cử tuyển con em đồng bào dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng; ưu tiên tuyển dụng người dân tộc thiểu số tại chỗ vào các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
    • Đào tạo, bồi dưỡng: Đổi mới chương trình tại Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; tăng cường mở các lớp đào tạo chuyên môn tại chức, liên kết đào tạo cử nhân luật, kinh tế, quản lý nhà nước; tổ chức dạy tiếng dân tộc cho cán bộ công tác tại vùng đồng bào.
    • Bố trí, sử dụng và luân chuyển: Tăng tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy khóa XIII, XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; đưa cán bộ trẻ, cán bộ diện quy hoạch về giữ các chức danh chủ chốt tại các xã khó khăn để rèn luyện thực tiễn; thực hiện chính sách hỗ trợ cán bộ đi học và phụ cấp thu hút tại vùng cao.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết thực tiễn 20 năm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang:

  • Ưu điểm: Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tăng nhanh về số lượng; trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị từng bước được chuẩn hóa; tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp ủy và bộ máy nhà nước bảo đảm cơ cấu hợp lý; giữ vai trò nòng cốt trong củng cố khối đại đoàn kết, giữ vững an ninh chính trị và phát triển kinh tế địa phương.
  • Hạn chế: Tỷ lệ cán bộ giữa các dân tộc chưa cân đối, số lượng cán bộ thuộc các dân tộc Dao, H'Mông, Cao Lan còn thấp so với quy mô dân số; cán bộ có trình độ chuyên môn cao và cán bộ nữ dân tộc thiểu số còn thiếu; một bộ phận cán bộ xã còn hạn chế về năng lực quản lý và kỹ năng điều hành; công tác đánh giá, luân chuyển cán bộ ở một số nơi còn mang tính hình thức.
  • Các bài học kinh nghiệm được rút ra:
    • Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng về vai trò của cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị.
    • Thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu: quy hoạch phải đi trước một bước, đào tạo gắn liền với địa chỉ sử dụng và bố trí chức danh.
    • Đổi mới nội dung, phương thức đào tạo phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ và văn hóa của từng tộc người.
    • Thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng, kết hợp động viên tinh thần nhằm khơi dậy tính tự lực, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại của cán bộ dân tộc thiểu số.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Bổ sung và hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử, đặc biệt là các tư liệu lưu trữ của địa phương về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với công tác cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010.
  • Làm sáng tỏ tính đúng đắn, cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc và công tác cán bộ trong điều kiện cụ thể của một tỉnh miền núi đa dân tộc.
  • Tổng kết toàn diện những thành tựu, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân trong quá trình tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong 20 năm tái lập tỉnh.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn, làm cơ sở khoa học giúp Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo công tác cán bộ; đồng thời cung cấp luận cứ tham khảo cho các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện tương đồng.

Các giải pháp và kiến nghị đề xuất từ kết quả nghiên cứu:

  • Hoàn thiện công tác rà soát quy hoạch, mở rộng nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ thuộc các dân tộc thiểu số có dân số ít.
  • Nâng cao hiệu quả chính sách cử tuyển thông qua việc cam kết bố trí công tác sau tốt nghiệp đúng chuyên ngành đào tạo.
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách phụ cấp đối với cán bộ công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Phạm vi nghiên cứu kết thúc ở mốc thời gian năm 2010, chưa phản ánh các chủ trương mới từ Đại hội XI của Đảng và những biến động về kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang sau giai đoạn này.
  • Phạm vi không gian giới hạn trong địa giới hành chính tỉnh Tuyên Quang (1 thị xã và 6 huyện); chưa có điều kiện khảo sát thực địa đối chứng sâu với toàn bộ các tỉnh lân cận trong khu vực căn cứ địa Việt Bắc.
  • Nguồn dữ liệu chủ yếu khai thác từ các báo cáo lưu trữ của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương; số lượng các điều tra xã hội học độc lập còn khiêm tốn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng giai đoạn nghiên cứu từ năm 2011 đến các nhiệm kỳ gần đây nhằm đánh giá tính liên tục của chính sách cán bộ dân tộc thiểu số.
  • Đi sâu nghiên cứu so sánh đối sánh giữa Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang với các tỉnh bạn ở khu vực miền núi phía Bắc (như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn).
  • Khảo cứu chuyên biệt theo từng nhóm dân tộc thiểu số đặc thù hoặc nghiên cứu chuyên đề về đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Cấp ủy Đảng và cơ quan tham mưu tổ chức tỉnh Tuyên Quang: Cung cấp cơ sở thực tiễn giúp Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ dân tộc thiểu số cho các giai đoạn tiếp theo.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo lý luận chính trị: Phục vụ trực tiếp hoạt động nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, Trường Đại học Tân Trào và các trường chính trị trong khu vực miền núi phía Bắc.
  • Cán bộ nghiên cứu chính sách dân tộc: Tài liệu cung cấp dữ liệu lịch sử phục vụ việc nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở và chính sách phát triển nguồn nhân lực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Mục đích và phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào?
Luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010, từ đó bước đầu đúc kết các bài học kinh nghiệm. Mốc năm 1991 là thời điểm tái lập tỉnh Tuyên Quang từ tỉnh Hà Tuyên; mốc năm 2010 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

2. Tác giả luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm chủ đạo. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu văn kiện, phương pháp so sánh (với các tỉnh miền núi phía Bắc) và phương pháp thống kê dữ liệu báo cáo, điều tra thực tế.

3. Thực trạng công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang trước năm 1991 có những đặc điểm gì?
Trước năm 1991 (thời kỳ tỉnh Hà Tuyên), việc tham gia của cán bộ dân tộc thiểu số mang tính ngẫu nhiên, tỷ lệ thấp so với tổng số cán bộ. Công tác cán bộ thiếu kế hoạch dài hạn; từng có tư tưởng hẹp hòi gạt bỏ người thuộc tầng lớp trên có uy tín. Đội ngũ cán bộ dân tộc chủ yếu là người Tày, các dân tộc Dao, Nùng, Cao Lan, Sán Dìu có rất ít cán bộ; các vị trí chủ chốt cấp tỉnh và huyện phần lớn do cán bộ miền xuôi đảm nhiệm.

4. Khái niệm "dân tộc thiểu số" được luận án định nghĩa và phân biệt ra sao?
Luận án chỉ ra rằng các định chế quốc tế như WB, ADB dùng khái niệm "người bản địa", nhưng tại Việt Nam không có tộc người phi bản địa. Luận án định nghĩa tộc người thiểu số là các tộc người có dân số ít hơn khi đặt trong tương quan tổng dân số cả nước (theo Tổng điều tra năm 2009, 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,27%, người Kinh chiếm 85,73%). Tỷ lệ này không xét theo phạm vi địa phương riêng lẻ vì có dân tộc là thiểu số của cả nước nhưng lại chiếm đa số tại một địa bàn cụ thể.

5. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang tác động thế nào đến việc xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số theo phân tích của tác giả?
Tuyên Quang có 4/5 diện tích là rừng núi, địa hình chia cắt, giao thông cách trở. Kinh tế chậm phát triển, công nghiệp chỉ chiếm 14% tổng sản phẩm xã hội, tỷ lệ hộ nghèo vùng sâu vùng cao còn lớn. Dân số gồm 22 dân tộc sống xen kẽ, trình độ dân trí không đồng đều. Đời sống khó khăn và tâm lý bằng lòng với hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập, tạo nguồn và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tại chỗ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lý Thị Thu đã tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong giai đoạn 1991 - 2010. Công trình làm rõ những chủ trương, bước đi thực tiễn qua hai giai đoạn 1991 - 2000 và 2001 - 2010, gắn với các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và an ninh trật tự đặc thù của địa phương. Trên cơ sở phân tích khách quan các ưu điểm và hạn chế, luận án đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị tham khảo đối với công tác cán bộ tại tỉnh Tuyên Quang và các địa bàn miền núi phía Bắc.