Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc thực hiện chính sách dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh 1. Các công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách công Chủ đề chính sách công và thực hiện chính sách công đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, trong nhiều tài liệu của Đảng và Nhà nước, trong các sách báo tài liệu chuyên ngành và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến sau đây: Lê Chi Mai trong công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách cho rằng, “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi”, “thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra”; thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý tưởng chính sách thành hiện thực nhằm đạt mục tiêu mong muốn, việc triển khai này sẽ làm bộc lộ những vấn đề cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong nội dung chính sách [85, tr.
Lê Văn Hòa có cuốn Quản lý thực thi chính sách công theo kết quả. Nội dung cuốn sách phân tích bản chất của quản lý theo kết quả, bản chất của thực thi chính sách công và quản lý thực thi chính sách công theo kết quả, đánh giá thực trạng quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam; từ đó đề xuất áp dụng quản lý thực thi chính sách công theo kết quả ở Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả trách nhiệm giải trình và phát huy dân chủ trong thực thi chính sách công ở Việt Nam, góp phần thúc đẩy KT-XH phát triển theo định hướng XHCN [69]. Văn Tất Thu là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về chính sách công và thực thi chính sách công. Với bài viết Bản chất, vai trò chính sách công, tác giả cho rằng tổ chức thực hiện chính sách là một khâu của chu trình chính sách; là bước đặc biệt quan trọng với nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống; các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách.
Tổ chức thực 8 hiện chính sách gồm các bước cụ thể như sau: xây dựng kế hoạch triển khai; phổ biến, tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc; tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm. Các bước này đều có mối liên hệ, tác động và bổ sung cho nhau, nhằm hướng tới thực hiện có hiệu quả mục tiêu chính sách đặt ra, không được coi nhẹ, bỏ qua bất cứ bước nào trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách [143]. Trong bài viết Năng lực thực hiện chính sách công - những vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả Văn Tất Thu phân tích lý luận về năng lực thực hiện chính sách công, thực tiễn về năng lực thực hiện chính sách ở Việt Nam, những ưu điểm trong quy trình thực hiện chính sách công của Việt Nam hiện nay, những nhược điểm, hạn chế bất cập, những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực hiện chính sách công của Việt Nam. Tác giả cho rằng, thực hiện chính sách công là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định [142].
Nguyễn Trọng Bình, trong bài viết Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam, cho rằng, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, trong đó có ba yếu tố chủ yếu là chất lượng chính sách; đối tượng bị tác động bởi chính sách (đối tượng chính sách) và chủ thể thực thi chính sách. Tác giả nêu một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ở Việt Nam cần chú ý đến là: (1) nâng cao chất lượng chính sách; (2) đảm bảo nguồn lực đủ mức cho thực thi chính sách; (3) tăng cường sự tương tác và phối hợp trong thực thi chính sách; (4) thông qua các biện pháp khác nhau để tăng cường sự tiếp nhận và ủng hộ của đối tượng chính sách; (5) nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBCC thực thi chính sách và (6) coi trọng xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, có cơ chế vận hành phù hợp. Theo quan điểm tác giả trong chu trình chính sách công, thực thi chính sách có vai trò thực hiện mục tiêu chính sách, kiểm nghiệm chính sách trong thực tế và góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, ban hành chính sách tiếp theo [21]. Lê Văn Gấm và Nguyễn Thị Ánh Mây, trong cuốn sách chuyên khảo Thực hiện chính sách công - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (NXB.
Khoa học xã hội, 2021), cho rằng, chính sách công là một công cụ quan trọng để nhà nước quản lý 9 xã hội. Vì vậy, thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống mà đối tượng thụ hưởng chủ yếu là người dân, doanh nghiệp và các đối tượng liên quan, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. Cuốn sách làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công; nêu ra một số đánh giá hợp lý về thực trạng tổ chức thực hiện chính sách công ở Việt Nam hiện nay; đề xuất được một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách công ở Việt Nam hiện nay [51]. Nguyễn Khắc Bình trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ về đề tài Thực hiện chính sách công ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, đã phân tích thực trạng thực hiện chính sách công ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022 và đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách công ở Việt Nam nhằm hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách công ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Phạm vi nghiên cứu đề tài là thực hiện chính sách công về KH&CN, y tế và giáo dục ở Việt Nam [20]. Hồ Việt Hạnh, Kiều Quỳnh Anh và Nguyễn Thị Hoài, trong bài viết Phương thức triển khai đề tài thực hiện chính sách công, đăng trên Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, các tác giả cho rằng, chính sách công là một ngành khoa học có tính ứng dụng cao có nhiều đề tài nghiên cứu về thực hiện chính sách công nào đó trên địa bàn cụ thể. Điều đó rất có ý nghĩa đối với địa phương thực hiện chính sách cũng như đối với cấp ban hành chính sách. Thực hiện chính sách công là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống hay nói cách khác là hiện thực hóa mục tiêu chính sách.
Tác giả đề cập đến những vấn đề cần chú ý một số vấn đề căn cốt khi triển khai đề tài thực hiện chính sách nói chung và Luận văn Thạc sĩ Chính sách công nói riêng [61]. Basir Chand có bài viết Public Policy: Implementation Approaches (Chính sách công: Các phương pháp tiếp cận thực hiện). Trong bài này, tác giả so sánh hai phương pháp tiếp cận thực hiện chính sách công là phương pháp từ trên xuống và phương pháp từ dưới lên, đề xuất vận dụng thêm các phương pháp khác nhau như: phương pháp cơ cấu, phương pháp thủ tục, phương pháp hành vi và phương pháp chính trị trong quá trình thực hiện chính sách trên cơ sở thấu hiểu bản chất của chính sách [178]. 10 Hudson, David Hunter & Stephen Peckham có công trình Policy failure and the policy-implementation gap: can policy support programs help? (Sự thất bại chính sách và khoảng cách giữa chính sách và thực thi chính sách: Các chương trình hỗ trợ chính sách có thể giúp ích không?) đăng tại Tạp chí Policy Design and Practice (Thiết kế và thực hành chính sách).
Các tác giả cho rằng, khó có thể tìm ra một cách tốt nhất để đảm bảo thực hiện chính sách hiệu quả. Tuy nhiên, thay vì chỉ để các chính sách rơi vào tình trạng thất bại hoàn toàn hoặc thậm chí một phần, các chính phủ hiện đang bắt đầu quan tâm đến những cách thức mà quá trình chính sách - đặc biệt là giai đoạn thực hiện - có thể được củng cố và hỗ trợ [184]. Công trình nghiên cứu của tác giả trong nước về chính sách dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam Tác giả Đàm Thị Uyên, trong cuốn Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thế kỷ XI-XIX) (sách xuất bản lần đầu năm 1998, tái bản năm 2007), cho rằng, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp tích cực đối với miền núi, với các DTTS. Từ thời Lý (thế kỷ XI), chính sách "Nhu viễn" (mềm dẻo với phương xa) đã được thực hiện, sau này vẫn là quốc sách hàng đầu, phổ biến và lâu dài của các triều đại phong kiến tiếp theo.
"Nhu viễn" xây dựng mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước Trung ương với cộng đồng các Tù trưởng thông qua việc ban phẩm tước cho Tù trưởng; phân phong một số Hoàng Thân, quan lại lên tuần giữ vùng biên, đặc biệt là câu thức, lôi kéo quan hệ thân tộc (qua hôn nhân) giữa các Tù trưởng với Công chúa, Cung phi của triều đình. Chính sách "Nhu" "Cương" hợp lý có ý nghĩa tích cực trong củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ, xâm lấn và giữ gìn an ninh biên giới [170]. Phạm Hữu Dật và Lâm Bá Nam, trong cuốn sách Cội nguồn Chính sách dân tộc Việt Nam, (NXB. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, vấn đề dân tộc có tầm quan trọng trong kế sách dựng nước và giữ nước.