Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước vừa đón nhận những vận hội mở rộng thị trường, vừa phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt. Ngành xây dựng cơ bản đóng vai trò là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật và nâng cao đời sống xã hội. Tuy nhiên, đặc thù sản phẩm xây dựng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thi công kéo dài và đối mặt với nhiều rủi ro thanh toán. Thực tế cho thấy sự bất lực trong việc hoạch định, kiểm soát tài sản ngắn hạn và công nợ là một trong những nguyên nhân trọng yếu dẫn đến suy giảm hiệu quả tài chính hoặc phá sản tại nhiều doanh nghiệp xây dựng.
Công ty Cổ phần SBTECH là doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực thi công, xây dựng các công trình công ích, xây dựng công trình điện đến 35KV và bán buôn máy móc, thiết bị, phụ tùng máy nông nghiệp. Nhận thấy tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng tài sản nhưng công tác quản lý còn nhiều bất cập, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài nhằm khảo sát thực tế và đưa ra các đề xuất hoàn thiện cho công ty.
Văn bản xác định mục tiêu nghiên cứu gồm 3 nội dung cụ thể:
- Tóm lược các nội dung lý thuyết cơ bản về quản trị tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
- Dựa trên những tiền đề lý luận để khảo sát thực trạng về tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần SBTECH một cách khách quan và trung thực.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần SBTECH.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần SBTECH.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần SBTECH (trụ sở tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thực tế quản trị tài sản ngắn hạn trong 3 năm, giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 về "Trình bày báo cáo tài chính". Theo đó, tài sản ngắn hạn được định nghĩa là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng hoặc luân chuyển giá trị trong một chu kỳ kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm. Tài sản ngắn hạn được phân loại theo ba góc độ:
- Căn cứ hình thái biểu hiện: Tài sản là vật tư hàng hóa và tài sản phi hàng hóa.
- Căn cứ các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh: Tài sản trong khâu dự trữ, khâu sản xuất và khâu lưu thông.
- Căn cứ chế độ quản lý tài chính hiện hành: Tài sản bằng tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
Khung phân tích quản trị tài sản ngắn hạn bao gồm 4 nội dung trọng tâm: quản trị tiền mặt, quản trị các khoản phải thu, quản trị hàng tồn kho và quản trị các tài sản ngắn hạn khác. Trong quản trị khoản phải thu, văn bản giới thiệu mô hình chấm điểm tín dụng khách hàng với các tiêu chí và thang điểm rủi ro:
| Biến số đánh giá |
Trọng số |
Thang điểm tín dụng |
Phân loại nhóm rủi ro |
| Khả năng thanh toán lãi |
4 |
> 47 |
Nhóm 1 |
| Khả năng thanh toán nhanh |
11 |
40 - 47 |
Nhóm 2 |
| Số năm hoạt động |
1 |
32 - 39 |
Nhóm 3 |
| - |
- |
24 - 31 |
Nhóm 4 |
| - |
- |
< 24 |
Nhóm 5 |
Hệ thống chỉ tiêu lượng hóa hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn được tác giả áp dụng gồm:
- Vòng quay hàng tồn kho (Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân) và Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho (Số ngày trong kỳ / Số vòng quay hàng tồn kho trong kỳ).
- Vòng quay các khoản phải thu (Doanh thu thuần / Số dư bình quân các khoản phải thu) và Kỳ thu tiền bình quân (ACP = Các khoản phải thu / Doanh thu tiêu thụ bình quân một ngày).
- Số vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn (Doanh thu thuần và doanh thu tài chính / Tài sản ngắn hạn bình quân) và Số ngày một vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn (Số ngày trong kỳ / Số vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn).
Khóa luận cũng phân tích hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài sản ngắn hạn, chia thành:
- Nhân tố khách quan: Lạm phát, rủi ro tự nhiên và thị trường, chu kỳ sản xuất - tiêu dùng, nhu cầu thị trường và biến động giá cả, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô và chính sách thuế của Nhà nước.
- Nhân tố chủ quan: Năng lực xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn, việc lựa chọn phương án đầu tư, trình độ tổ chức nhân sự, uy tín kinh doanh và trình độ tổ chức lưu chuyển hàng hóa.
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu của đề tài:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý của Công ty Cổ phần SBTECH (gồm Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng và Chủ tịch Hội đồng quản trị) xoay quanh thực trạng quản trị công nợ, phương pháp quản lý dự trữ tồn kho và các rào cản tài chính. Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm Microsoft Word kết hợp tính toán thủ công.
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ hệ thống sổ sách kế toán, Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2014 - 2016 của công ty. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp, tính toán trên phần mềm Microsoft Excel; sử dụng phương pháp so sánh (tuyệt đối, tương đối) và phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích biến động.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý thuyết cơ bản về quản trị tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp
Chương này tập trung hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm và vai trò của tài sản ngắn hạn đối với quá trình duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục. Tác giả luận giải vai trò của tài sản ngắn hạn trong việc đảm bảo khả năng thanh toán, tạo dựng quan hệ thương mại thông qua chính sách bán chịu, và tận dụng chiết khấu thanh toán để tiết kiệm chi phí.
Nội dung chương trình bày chi tiết nghiệp vụ quản trị từng bộ phận tài sản ngắn hạn:
- Quản trị tiền mặt gắn liền với các động cơ giao dịch, dự phòng và kinh doanh, hướng đến việc cân đối giữa tính thanh khoản và chi phí cơ hội của việc giữ tiền không sinh lời.
- Quản trị các khoản phải thu yêu cầu xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý, kiểm soát hạn mức bán chịu thông qua mô hình chấm điểm tín dụng và theo dõi chặt chẽ kỳ thu tiền bình quân nhằm hạn chế rủi ro nợ xấu.
- Quản trị hàng tồn kho yêu cầu giải quyết mối quan hệ đánh đổi giữa chi phí lưu kho, bảo quản với nguy cơ gián đoạn tiến độ công trình khi thiếu hụt vật tư.
- Quản trị tài sản ngắn hạn khác bao gồm việc quản lý đầu tư ngắn hạn, các khoản tạm ứng, trả trước và chi phí ký cược, ký quỹ.
Bên cạnh đó, chương thiết lập hệ thống công thức đo lường tốc độ chu chuyển của hàng tồn kho, công nợ phải thu và toàn bộ tài sản ngắn hạn, đồng thời phân loại chi tiết các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả quản trị tài chính ngắn hạn.
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần SBTECH giai đoạn 2014-2016
Chương II mở đầu bằng việc giới thiệu tổng quan về Công ty Cổ phần SBTECH. Doanh nghiệp được thành lập vào tháng 9 năm 2011 bởi các chuyên gia, giảng viên Bộ môn Sức Bền Vật Liệu, Khoa Công Trình – Trường Đại học Giao thông Vận tải; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0105528894 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 28/09/2011; mệnh giá cổ phần là 10.000 đồng với tổng số 275.000 cổ phần. Doanh nghiệp từng hợp tác nghiên cứu vật liệu mới với các đối tác quốc tế như Đại học Tottori (Nhật Bản), Đại học Kỹ thuật Nanyang (Singapore), Đại học Darmstadt (Đức) và Hãng FYFE.
Kết quả phân tích dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn 4 lãnh đạo ghi nhận:
- Ông Lương Xuân Bính (Giám đốc) xác nhận lĩnh vực chủ lực tạo doanh thu cao nhất là xây dựng, lắp đặt công trình công ích, công trình điện đến 35KV và bán buôn máy móc nông nghiệp.
- Bà Trần Thị Hồng Thúy (Kế toán trưởng) cho biết công ty áp dụng chính sách tín dụng thương mại phân loại khách hàng thành 5 nhóm; riêng nhóm 5 tuyệt đối không cho mua chịu mà phải thanh toán ngay khi nhận hàng.
- Ông Trần Văn Tuấn (Phó Tổng Giám đốc) xác nhận công ty đang quản lý tồn kho theo phương pháp truyền thống (phân bổ dự trữ theo kế hoạch sản xuất quý chia cho từng tháng dựa trên khối lượng xây dựng dự án), chưa áp dụng mô hình khoa học và đang hướng tới áp dụng mô hình EQQ/EOQ; đồng thời chỉ ra khó khăn do suy thoái kinh tế, nhà nước cắt giảm quy mô dự án và tốc độ giải ngân chậm.
- Ông Vũ Văn Thành (Chủ tịch HĐQT) đánh giá quản trị tài sản ngắn hạn đã cải thiện khả năng thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh, song tồn tại hạn chế lớn là khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá cao và khả năng thanh toán tức thời bằng tiền mặt chưa tốt.
Về dữ liệu thứ cấp, tổng tài sản ngắn hạn của công ty biến động không ổn định: năm 2014 đạt 34.238.717.206 đồng, năm 2015 tăng lên 51.985 triệu đồng và năm 2016 giảm về mức 46.633.732.344 đồng. Các bảng dữ liệu tài chính được tác giả phân tích chi tiết:
Bảng tổng hợp chỉ tiêu tài chính và chu chuyển tài sản ngắn hạn SBTECH giai đoạn 2014-2016:
| Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
| Doanh thu thuần |
VNĐ |
601.166 |
345.675 |
427.841 |
| Lợi nhuận thuần từ HĐKD |
VNĐ |
775.828 |
550.000 |
655.828 |
| Lợi nhuận sau thuế |
VNĐ |
601.166 |
345.675 |
427.841 |
| Tiền mặt tồn quỹ |
VNĐ |
867.467 |
1.138.323 |
218.954 |
| Vòng quay hàng tồn kho |
Vòng |
1,87 |
1,77 |
3,45 |
| Tỷ trọng chi phí SXKD dở dang |
% |
28,70 |
36,59 |
27,44 |
| Tỷ trọng hàng hóa tồn kho |
% |
16,60 |
9,86 |
9,37 |
| Vòng quay các khoản phải thu |
Vòng |
2,64 |
1,86 |
2,90 |
| Tỷ trọng phải thu ngắn hạn khách hàng |
% |
46,61 |
49,27 |
59,61 |
| Chi phí trả trước ngắn hạn |
VNĐ |
206.085 |
109.319 |
575 |
| Số vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn |
Vòng |
0,0200 |
0,0067 |
0,0092 |
Phân tích chuyên sâu từng bộ phận tài sản cho thấy:
- Quản trị tiền mặt: Toàn bộ tiền của công ty là tiền mặt, hoàn toàn không có số dư tiền gửi ngân hàng hay đầu tư tài chính ngắn hạn. Năm 2015 tiền mặt tăng lên 1.138.323 đồng (tăng 270.856 đồng), nhưng đến năm 2016 giảm mạnh 919.369 đồng xuống còn 218.954 đồng do đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới. Nguồn huy động tiền mặt khi thiếu hụt phụ thuộc hoàn toàn vào vay ngắn hạn ngân hàng thương mại.
- Quản trị hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho năm 2015 giảm nhẹ xuống 1,77 vòng (giảm 5,65%), sau đó tăng mạnh lên 3,45 vòng vào năm 2016 (tăng 48,7% so với 2015). Tỷ trọng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tồn kho (năm 2015 chiếm 36,59%), phản ánh nhiều công trình xây lắp kéo dài chưa thể nghiệm thu, bàn giao và quyết toán.
- Quản trị khoản phải thu: Khoản phải thu khách hàng tăng liên tục từ 46,61% (năm 2014) lên 59,61% (năm 2016), đẩy tỷ trọng tổng các khoản phải thu ngắn hạn lên tới 62,05% tổng tài sản ngắn hạn. Vòng quay khoản phải thu sụt giảm mạnh trong năm 2015 xuống 1,86 vòng (giảm 41,94%), sau đó phục hồi đạt 2,90 vòng trong năm 2016 nhờ siết chặt thu hồi công nợ.
- Hiệu quả chu chuyển tổng tài sản ngắn hạn rất thấp: Đạt 0,02 vòng vào năm 2014, giảm mạnh còn 0,0067 vòng (năm 2015) và chỉ phục hồi nhẹ lên 0,0092 vòng (năm 2016).
Đánh giá tổng hợp chương chỉ ra thành tựu: duy trì cung ứng kịp thời cho thi công, kiểm kê kho 2 tháng/lần, phân loại bước đầu khách hàng mua chịu. Hạn chế cốt lõi: quản lý tiền dựa trên ước lượng kinh nghiệm, không tính được nhu cầu tiền mặt chuẩn; vốn bị khách hàng chiếm dụng lớn; hàng tồn kho dự trữ theo kế hoạch chủ quan dẫn đến gia tăng chi phí lưu kho, ứ đọng vốn; hiệu suất sinh lời trên tài sản thấp. Nguyên nhân xuất phát từ trình độ nhân sự thẩm định dự toán còn yếu, quản trị kho lỏng lẻo, cùng các tác động vĩ mô như chính sách tiền tệ thắt chặt và thị trường tài chính chưa đa dạng công cụ huy động vốn.
Chương III: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần SBTECH
Chương III xác định định hướng chiến lược của SBTECH là chủ động xác định nhu cầu vốn để chọn phương thức tài trợ tối ưu (vốn vay, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại); tinh giảm lượng hàng tồn kho nhằm giải phóng dòng vốn ứ đọng; tăng cường khả năng thanh toán nhanh và thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi, thu hồi nợ.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp chi tiết:
- Quản trị tiền và các tài sản tương đương tiền hiệu quả, chặt chẽ: Tối thiểu hóa lượng tiền mặt nhàn rỗi tại quỹ; chuyển dịch một phần tiền mặt sang mở tài khoản tiền gửi ngân hàng để đảm bảo an toàn và chủ động dòng tiền thanh toán; lập ngân sách thu chi định kỳ nhằm khắc phục việc quản lý tiền mặt theo kinh nghiệm ước lượng.
- Quản trị chặt chẽ các khoản phải thu ngắn hạn:
- Hoàn thiện chính sách bán chịu: Thiết lập hạn mức tín dụng dựa trên phân tích năng lực tài chính và lịch sử thanh toán của đối tác.
- Xác định điều kiện thanh toán: Xây dựng tỷ lệ chiết khấu thanh toán hợp lý khi khách hàng trả trước hạn; cân đối giữa doanh thu bán chịu và chi phí cơ hội của việc bị chiếm dụng vốn.
- Kiểm soát công nợ: Mở sổ theo dõi nợ chi tiết cho từng khách hàng, định kỳ đối chiếu công nợ, gửi thông báo nhắc nợ trước hạn; trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi căn cứ vào thời gian quá hạn và quy mô nợ thực tế.
- Quản trị chặt chẽ hàng tồn kho:
- Đẩy nhanh tiến độ thi công và khâu nghiệm thu, quyết toán công trình dở dang để sớm giải phóng giá trị tồn kho sang khâu thanh toán.
- Thay thế phương pháp quản lý truyền thống bằng mô hình tồn kho tối ưu (như EOQ) nhằm xác định mức dự trữ an toàn, điểm đặt hàng tối ưu.
- Xây dựng hệ thống định mức: Xác lập định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng hạng mục công trình; quy định mức tồn kho tối đa - tối thiểu cho từng loại vật tư chủ lực (sắt, thép, xi măng); siết chặt quy trình đấu thầu, mua sắm nguyên vật liệu; kiểm kê phân loại định kỳ và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Một số giải pháp khác:
- Sử dụng hiệu quả các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Nghiên cứu tham gia thị trường tiền tệ, đầu tư vào các loại chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao để tạo nguồn thu lãi từ vốn tạm thời nhàn rỗi.
- Vận dụng chính sách tín dụng linh hoạt: Triển khai trên thực tế mô hình chấm điểm tín dụng 5 nhóm rủi ro đã xây dựng ở Chương I, kiên quyết siết chặt hoặc từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng thuộc nhóm rủi ro cao (nhóm 4 và nhóm 5).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa toàn diện bức tranh tài chính ngắn hạn của Công ty Cổ phần SBTECH thông qua hệ thống số liệu cụ thể trong 3 năm (2014 - 2016):
- Tỷ trọng các khoản phải thu khách hàng luôn ở mức áp đảo, gia tăng từ 46,61% (năm 2014) lên 59,61% (năm 2016), kéo theo tổng khoản phải thu chiếm 62,05% tổng tài sản ngắn hạn năm 2016.
- Vòng quay khoản phải thu phục hồi từ mức 1,86 vòng (năm 2015) lên 2,90 vòng (năm 2016); vòng quay hàng tồn kho tăng từ 1,77 vòng (năm 2015) lên 3,45 vòng (năm 2016).
- Chỉ ra điểm yếu nghiêm trọng trong cơ cấu tiền: 100% tài sản bằng tiền được giữ dưới dạng tiền mặt tồn quỹ (năm 2014: 867.467 đồng, năm 2015: 1.138.323 đồng, năm 2016: 218.954 đồng), hoàn toàn thiếu vắng công cụ tiền gửi ngân hàng và đầu tư tài chính ngắn hạn.
- Tốc độ chu chuyển tổng tài sản ngắn hạn đạt mức rất thấp (năm 2016 chỉ đạt 0,0092 vòng), thể hiện hiệu quả sinh lời và khả năng luân chuyển vốn còn nhiều hạn chế.
Đề tài đóng góp giải pháp mang tính ứng dụng thực tế cho công ty: đề xuất chuyển đổi phương thức quản lý tồn kho xây dựng sang mô hình EOQ; thiết lập hệ thống định mức tiêu hao vật tư; cụ thể hóa mô hình chấm điểm tín dụng 5 nhóm để sàng lọc khách hàng; kiến nghị mở rộng kênh tiền gửi ngân hàng và đầu tư chứng khoán thanh khoản cao nhằm tối ưu hóa ngân quỹ.
Về mặt học thuật, công trình đóng góp một nghiên cứu tình huống cụ thể về quản trị vốn lưu động và tài sản ngắn hạn trong một doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam, phản ánh rõ nét sự mâu thuẫn giữa mục tiêu mở rộng doanh số bằng tín dụng thương mại với áp lực thanh khoản và kiểm soát chi phí tồn trữ công trình dở dang.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Chuỗi dữ liệu phân tích chỉ tập trung trong phạm vi 3 năm (2014 - 2016), chưa phản ánh được sự biến động chu kỳ dài hạn của ngành xây dựng.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp mới dừng lại ở việc phỏng vấn định tính 4 cán bộ quản lý, chưa tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng hỏi định lượng trên diện rộng đối với nhân viên kế toán, kỹ sư công trường hoặc các đối tác khách hàng.
- Báo cáo tài chính sử dụng là bản rút gọn, một số số liệu về doanh thu và chi phí trong văn bản còn thể hiện ở dạng tóm lược, chưa phân tách chi tiết từng công trình.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo các hướng:
- Ứng dụng thực nghiệm mô hình định lượng quản trị hàng tồn kho (EOQ, POQ) vào điều kiện thực tế của từng dự án thi công xây dựng cụ thể.
- Kiểm định độ tin cậy của mô hình chấm điểm tín dụng đối với toàn bộ danh mục khách hàng mua chịu tại công ty.
- Đánh giá tác động của việc đa dạng hóa các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn đối với hệ số sinh lời của doanh nghiệp khi quy mô vốn tăng lên.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh khi thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về đề tài quản trị vốn lưu động, quản trị tài sản ngắn hạn hoặc phân tích tài chính doanh nghiệp xây dựng.
- Cán bộ quản lý tài chính, kế toán trưởng tại các doanh nghiệp xây lắp công trình hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ đang tìm kiếm giải pháp kiểm soát dòng tiền, giải phóng hàng tồn kho dở dang và thu hồi nợ đọng.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống câu hỏi phỏng vấn quản lý thực tế (kết hợp góc nhìn từ Giám đốc, Kế toán trưởng, Phó Tổng Giám đốc phụ trách kỹ thuật và Chủ tịch HĐQT); mô hình chấm điểm tín dụng kết hợp trọng số thanh toán nhanh; và hệ thống chỉ tiêu phân tích chu chuyển tài sản ngắn hạn được bóc tách chi tiết theo từng khoản mục.
Câu hỏi thường gặp
1. Công ty Cổ phần SBTECH có xuất phát điểm và lĩnh vực hoạt động chính là gì?
Công ty được thành lập vào tháng 9 năm 2011 bởi các cán bộ giảng viên và chuyên gia thuộc Bộ môn Sức Bền Vật Liệu, Khoa Công Trình – Trường Đại học Giao thông Vận tải. Lĩnh vực kinh doanh chủ lực mang lại hiệu quả cao nhất của công ty là thi công, xây dựng các công trình công ích, xây dựng công trình điện đến 35KV và bán buôn máy móc, thiết bị, phụ tùng máy nông nghiệp.
2. Thực trạng quản trị tiền mặt tại SBTECH giai đoạn 2014-2016 có điểm gì đặc thù?
Toàn bộ tài sản bằng tiền của công ty đều được lưu trữ dưới hình thức tiền mặt tồn quỹ, hoàn toàn không có tiền gửi ngân hàng hay đầu tư tài chính ngắn hạn. Tiền mặt tồn quỹ đạt 867.467 đồng năm 2014, tăng lên 1.138.323 đồng năm 2015 và giảm xuống còn 218.954 đồng năm 2016 do công ty chi tiền mua sắm máy móc mới phục vụ sản xuất.
3. Tốc độ chu chuyển hàng tồn kho và khoản phải thu của SBTECH biến động ra sao trong giai đoạn nghiên cứu?
Vòng quay hàng tồn kho giảm từ 1,87 vòng (năm 2014) xuống 1,77 vòng (năm 2015), sau đó tăng mạnh lên 3,45 vòng (năm 2016). Vòng quay khoản phải thu giảm mạnh từ 2,64 vòng (năm 2014) xuống 1,86 vòng (năm 2015, giảm 41,94%), sau đó phục hồi lên mức 2,90 vòng (năm 2016, tăng 35,86%).
4. Mô hình chấm điểm tín dụng khách hàng trong khóa luận sử dụng những tiêu chí và mức điểm phân loại nào?
Mô hình sử dụng 3 tiêu chí: Khả năng thanh toán nhanh (trọng số 11), Khả năng thanh toán lãi (trọng số 4) và Số năm hoạt động (trọng số 1). Khách hàng được phân loại thành 5 nhóm rủi ro: Nhóm 1 (> 47 điểm), Nhóm 2 (40 - 47 điểm), Nhóm 3 (32 - 39 điểm), Nhóm 4 (24 - 31 điểm) và Nhóm 5 (< 24 điểm). Khách hàng nhóm 5 bị từ chối bán chịu hoàn toàn.
5. Công ty SBTECH quản lý dự trữ tồn kho bằng phương pháp nào và dự kiến đổi mới ra sao?
Công ty đang quản lý tồn kho theo cách truyền thống: căn cứ kế hoạch sản xuất quý để phân bổ lượng dự trữ từng tháng theo tính toán khối lượng thi công của từng dự án. Do các công trình kéo dài và vận chuyển khó khăn nên công ty thường tích trữ khối lượng lớn gây ứ đọng vốn. Lãnh đạo công ty và tác giả đều đề xuất chuyển đổi sang áp dụng mô hình định lượng tối ưu EQQ/EOQ để xác định mức tồn trữ hợp lý, quản lý xuất nhập và cắt giảm chi phí lưu kho.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Lệ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị tài sản ngắn hạn và phản ánh trung thực thực trạng tài chính tại Công ty Cổ phần SBTECH giai đoạn 2014 - 2016. Nghiên cứu đã làm rõ những tồn tại cốt lõi của doanh nghiệp như việc phụ thuộc hoàn toàn vào tiền mặt tồn quỹ, tỷ trọng chi phí sản xuất dở dang và khoản phải thu khách hàng quá cao, dẫn tới vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn đạt mức rất thấp. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc áp dụng mô hình tồn kho tối ưu, xây dựng định mức nguyên vật liệu, vận dụng mô hình chấm điểm tín dụng và đa dạng hóa kênh thanh toán qua ngân hàng, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác quản trị tài chính tại đơn vị.