CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI DOANH NGHIỆP 1. Một số nội dung lý thuyết cơ bản liên quan đến quản trị tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp 1. Tài sản ngắn hạn 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn phản ánh quy mô sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi chu kì hoạt động của tài sản ngắn hạn là một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Do vậy, quản trị tài sản ngắn hạn luôn là một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế. Trong lĩnh vực lưu thông, nó tồn tại dưới những hình thái như thành phần tiền, hàng hóa. Tài sản ngắn hạn nằm trong quá trình lưu thông thay chỗ cho nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục.
Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 21 về “trình bày báo cáo tài chính”, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Trong đó, tài sản ngắn hạn là những tài sản có một trong các đặc trưng sau: - Được dự tính để bán hoặc để sử dụng trong khuôn khổ chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. - Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng một tháng kể từ ngày kết thúc niên độ. - Là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào.
Xét về phương diện giá trị, lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp, vốn Luan van 5 này có thể được tài trợ từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn chủ sở hữu, các khoản nợ phải trả, các nguồn khác,… Như vậy có thể hiểu: Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, luân chuyển giá trị trong một chu ký sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trong một năm. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn bao gồm: tài sản bằng tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho,… giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ tùy thuộc vào ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại tài sản ngắn hạn Tùy theo ngành nghề, lĩnh vực, quy mô và phương thức kinh doanh của doanh nghiệp mà kết cấu tài sản ngắn hạn của từng doanh nghiệp sẽ khác nhau. Theo yêu cầu quản lý tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có thể phân loại tài sản ngắn hạn theo các tiêu thức sau: a.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện của tài sản, TSNH của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản là vật tư hàng hóa bao gồm: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa,… Tài sản phi hàng hóa bao gồm: Tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán có tính thanh khoản cao, tiền trong thanh toán,… b. Căn cứ vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, TSNH bao gồm: TSNH trong khâu dự trữ: Nguyên vật liệu dự trữ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ lao động,… dự trữ để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể được tiến hành thường xuyên, liên tục. TSNH trong khâu sản xuất: Sản phẩm dở dang nhằm đảm bảo cho việc sản xuất được kiên tục. TSNH trong khâu lưu thông: Thành phẩm, hàng hóa, tài sản bằng tiền, các khoản phải thu,… nhằm đảm bảo cho việc tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng được thường xuyên.
Căn cứ vào chế độ quản lý tài chính hiện hành, TSNH bao gồm: Tài sản bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Luan van 6 Các khoản phải thu ngắn hạn: Phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu ngắn hạn khác. Hàng tồn kho: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa. TSNH khác: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các khoản tạm ứng, trả trước cho người bán, các khoản thế chấp, cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,… Việc nghiên cứu kết cấu tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý TSNH của doanh nghiệp, qua việc nghiên cứu này có thể thấy được tính hợp hoặc không hợp lý trong cơ cấu tài sản, từ đó có quyết định điều chỉnh thích hợp.
Quản trị tài sản ngắn hạn 1. Vai trò của tài sản ngắn hạn đối với doanh nghiệp Hoạt động của bất kỳ DN nào cũng không thể không có tài sản ngắn hạn. Dù đó, là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản lưu động đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. TSNH giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN được vận hành một cách liên tục, không bị gián đoạn.
Trong sản xuất, TSNH giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ nhip nhàng. TSNH giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, khi duy trì ở một mức độ hợp lý nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán,… từ đó, giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. TSNH giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân thuộc thông qua chính sách tín dụng thương mại. Thời gian luân chuyển TSNH lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng TSNH luôn diễn ra thường xuyên, liên tục.
Với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH trong doanh nghiệp là nhu cầu tất yếu. Nội dung công tác quản trị tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp TSNH là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, quản lý và sử dụng hiệu quả TSNH có ảnh hưởng quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Vì vậy, nội dung quản trị TSNH được thể hiện qua các nội dung sau: - Quản trị tiền mặt: Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của các doanh nghiệp ở ngân hàng.
Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh rất quan trọng, xuất phát từ những lý do sau: đảm bảo giao dịch hàng ngày; bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra; hướng lợi thế trong thương lượng mua hàng. Quản trị tiền đề cập đến việc quản trị tiền mặt, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng. Đối với doanh nghiệp, nội dung của quản trị tiền bao gồm: tăng tốc độ thu hồi tiền, giảm tốc độ chi tiêu tiền và lập ngân sách thu chi tiền tệ. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, việc thực hiện mục tiêu đẩy nhanh tốc độ thu tiền và giảm tốc độ chi tiêu có mối quan hệ trực tiếp với chính sách quản lý hàng tồn kho, chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và mục đích trên không phải lúc nào cũng thực hiện được.
Trên thực tế vẫn có những thời đểm hoặc thời kỳ doanh nghiệp phải tăng chi và giảm tốc độ thu tiền. Sự quản trị này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho DN đáp ứng các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả. Đồng thời có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư vào hoạt động tài chính, tham gia vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào doanh nghiệp, cùng với khả năng phân tích và phán đoán những biến động cũng như xu thế của thị trường tài chính từ đó các nhà quản lý mới có sự lựa chọn để đưa ra các quyết định sử dụng quỹ đúng đắn, giảm thiểu tối đa các rủi ro tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. vậy nên quản trị tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho DN.
Luan van 8 Động cơ chủ yếu của việc nắm giữ tiền mặt để làm thông suốt quá trình tạo ra các giao dịch kinh doanh. Bởi vậy sử dụng một loại tài sản khác có thanh khoản thấp hơn có thể làm các chi phí giao dịch tăng cao, mất nhiều thời gian hơn đối với một giao dịch kinh doanh thông thường. Động cơ giữ tiền mặt này có thể coi là động cơ kinh doanh. - Quản trị các khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, và các dịch vụ hậu mãi,… Trong đó, chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, tín dụng thương mại là con dao hai lưỡi, giúp doanh nghiệp tăng doanh số và tạo dựng mối quan hệ nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro không thu hồi được nợ. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng tín dụng của khách hàng, từ đó quyết định nên cấp tín dụng thương mại hay không. Đây là nội dung chính của quản trị các khoản phải thu. Đối với mỗi doanh nghiệp trước khi quyết định bán chịu phải phân tích tình hình tín dụng của khách hàng.