Chương 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre từ năm 1986 đến năm 1995. Chương 2: Lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2011. Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 5 z TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xƣớng và lãnh đạo đã đạt đƣợc những thành quả tích cực nhƣ kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện.
, nhƣng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nan giải; trong đó, có đói, nghèo. Vì thế, XĐGN đƣợc Đảng xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, XĐGN cũng là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam và thế giới. Nhiều loại công trình nghiên cứu về XĐGN, liên quan đến đề tài luận án đã đƣợc công bố.
Có thể phân chia thành các nhóm công trình nghiên cứu nhƣ sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo nói chung Hà Quế Lâm trong cuốn Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) đã phân tích những đặc điểm về địa lý, văn hóa, kinh tế ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, khái quát tình trạng đói nghèo và thực trạng XĐGN ở các vùng này trong những năm cuối thế kỷ XX (1992 - 2000); đồng thời, nêu những khuyến nghị về định hƣớng và một số giải pháp XĐGN cho đồng bào DTTS. Theo tác giả, để XĐGN vùng đồng bào DTTS cần thực hiện các nhóm vấn đề nhƣ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng; trợ giúp các đối tƣợng chính sách xã hội; cứu tế, viện trợ khẩn cấp; chống tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa. Bùi Minh Đạo chủ biên cuốn Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005).
Sau khi khái quát các điều kiện về môi trƣờng cƣ trú, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên, tác giả làm rõ các chính sách và kết quả thực hiện chính sách XĐGN. Từ đó, Bùi Minh Đạo đƣa ra một số giải pháp XĐGN đối với các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên. Theo tác giả, thực hiện XĐGN đối với các 6 z DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên cần quán triệt các quan điểm: XĐGN là một cuộc cách mạng toàn diện; XĐGN gắn với thực hiện chính sách dân tộc, bảo vệ an ninh quốc phòng và môi trƣờng sinh thái; XĐGN trên cơ sở xem xét thiết chế xã hội truyền thống và phù hợp với đặc điểm tộc ngƣời; XĐGN gắn với bảo tồn đa dạng văn hóa tộc ngƣời; XĐGN trên cơ sở coi trọng và kế thừa tri thức bản địa của ngƣời dân về cách quản lý nguồn tài nguyên. Ngoài ra, tác giả cũng đề ra một số nhóm giải pháp nhƣ nâng cao năng lực, phát triển sản xuất, xã hội.
Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trên. Đây là cuốn sách tham khảo có giá trị, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn về XĐGN bao quát hơn, không chỉ ở đồng bằng sông Cửu Long. Sách "Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam thành tựu, thách thức và giải pháp" (Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia, Hà Nội, 2007) đề cập đến những thành tựu về kinh tế - xã hội, XĐGN trong 20 năm đổi mới ở Việt Nam, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại nhƣ chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế yếu kém, các tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội thiếu đồng bộ; việc kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội còn nhiều hạn chế; tỷ lệ đói nghèo cao. Nhằm giải quyết triệt để những bất cập trên, cuốn sách chỉ rõ, phải thực hiện các nhóm giải pháp về chính sách vĩ mô và tổ chức thực hiện.
Quyển sách "Xóa đói giảm nghèo ở Malaixia và Thái Lan bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) của Võ Thị Thu Nguyệt, cho rằng, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều quốc gia Đông Nam Á giải quyết rất tốt vấn đề XĐGN và thu đƣợc nhiều thành tựu khả quan; trong đó, có Liên bang Malaixia và Vƣơng quốc Thái Lan. Những quốc gia này đã đƣợc Ngân hàng thế giới xếp trong danh sách các nƣớc Đông Nam Á thực hiện XĐGN thành công nhất. Chiến lƣợc XĐGN của Malaixia và Thái Lan là bài học quý đối với những quốc gia đang hƣớng tới mục tiêu kinh tế tăng trƣởng cao đi đôi với công bằng xã hội, đặc biệt là những nƣớc có điều kiện về vị trí địa lý cũng nhƣ dân tộc tƣơng đối gần gũi nhƣ Việt Nam. Vì thế, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm XĐGN của những quốc gia này.TS Lê Quốc Lý chủ biên cuốn "Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực trạng và giải pháp (Sách chuyên khảo)" (Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012).
Với 9 chƣơng, cuốn sách trình bày một cách tổng quan thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và các chính sách của Nhà nƣớc về XĐGN; các chƣơng trình XĐGN điển hình; việc thực hiện chính sách XĐGN của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010; nêu những định hƣớng, mục tiêu XĐGN và cơ chế, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách XĐGN. Tác giả cho rằng, từ khi thực hiện đƣờng lối đổi mới (1986) đến năm 2012, chính sách XĐGN đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hết sức quan tâm và xây dựng thành chƣơng trình mục tiêu quốc gia. Qua đó, nhận thức về vai trò quan trọng của XĐGN đối với tăng trƣởng và phát triển kinh tế - xã hội đƣợc thay đổi căn bản ở các cấp, các ngành. Vì vậy, trong giai đoạn 2001 - 2010, công cuộc XĐGN đạt đƣợc những thành tựu hết sức ấn tƣợng, góp phần làm tăng trƣởng kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thay đổi mức sống của ngƣời nghèo, tăng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc… Tuy nhiên, công cuộc XĐGN vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định nhƣ thành tựu chƣa thật sự bền vững, chính sách chồng chéo, thiếu thống nhất và đồng bộ, chủ yếu thiên về số lƣợng, chƣa chú trọng đến chất lƣợng giảm nghèo, mang tính ngắn hạn… Sách "Phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của TS.
Bùi Thị Hoàn (Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2013) trình bày khái niệm phân hóa giàu - nghèo, những vấn đề liên quan và tác động của nó đối với sự phát triển xã hội (chƣơng I). Ngoài ra, tác giả tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân, xu hƣớng vận động và những vấn đề đặt ra đối với sự phân hóa giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam (chƣơng II). Bùi Thị Hoàn đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế sự phân hóa giàu - nghèo; trong đó, tập trung vào hai nhóm giải pháp chính: nhóm giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo và nhóm giải pháp hạn chế sự làm giàu không chính đáng (chƣơng III). Tóm lại, 8 z quyển sách đã làm sáng tỏ một số vấn đề về thực trạng, nguyên nhân, xu hƣớng vận động của sự phân hóa giàu - nghèo và những giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh, bảo vệ năm 2004 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh:"Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến năm 2001" làm rõ quan điểm, chủ trƣơng của Đảng về chính sách xã hội trong giai đoạn 1991 - 2001; phân tích quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trên các lĩnh vực lao động việc làm, XĐGN, chính sách đối với ngƣời có công; đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội. Trên cơ sở những kết quả đạt đƣợc trong quá trình thực hiện chính sách xã hội, tác giả đúc rút bốn kinh nghiệm. Cụ thể là về đổi mới nhận thức; chú trọng phƣơng châm xã hội hóa trong thực hiện chính sách xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội; thƣờng xuyên phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị dƣới sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện chính sách xã hội. Đề tài khoa học "Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta" do GS.TS Trịnh Quốc Tuấn làm chủ nhiệm (bảo vệ năm 2004 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhận định: Kết hợp tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong điều kiện CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, toàn cầu hóa là đặc trƣng và cách thức phát triển nhanh, bền vững của những nƣớc có trình độ lực lƣợng sản xuất thấp nhƣ Việt Nam.
Điểm mấu chốt của quá trình kết hợp này là giải quyết vấn đề quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế với phát triển theo định hƣớng XHCN, hay nói cách khác giải quyết mối quan hệ giữa nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế và giữ vững định hƣớng XHCN. Tác giả cho rằng, ở Việt Nam, qua 15 năm đổi mới (1986 - 2001) dù xem xét ở lát cắt nào, kinh tế hay xã hội, cũng đều chứng tỏ tính ƣu tiên của 9 z tăng trƣởng kinh tế và bảo đảm lâu dài cho sự phát triển toàn diện của con ngƣời. Xuất phát từ hai đặc điểm lớn, bao trùm và cơ bản nhất là nƣớc nghèo, lạc hậu và phát triển theo định hƣớng XHCN thì Việt Nam không còn sự lựa chọn nào ngoài sự phát triển nhanh, bền vững và thực hiện các chính sách xã hội; trong đó, có XĐGN và cần hƣớng về con ngƣời. Tóm lại, đề tài phân tích sự kết hợp giữa tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong tiến trình CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng XHCN ở Việt Nam.