Tổng quan luận án

Công trình "Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 1986 đến năm 2011" của nghiên cứu sinh Nguyễn Tôn Phương Du là luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01), được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Quang Hiển.

Về tính cấp thiết, tác giả luận án trình bày: Đói nghèo là lực cản đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, thường đi liền với dân trí thấp, tệ nạn xã hội và nguy cơ mất ổn định trật tự an ninh. Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa trọng điểm của cả nước nhưng lại có tỷ lệ đói nghèo cao thứ hai toàn quốc. Bến Tre là tỉnh thuộc khu vực này; khi bước vào thời kỳ đổi mới và chuyển đổi sang kinh tế thị trường, tỉnh vừa đạt được các bước tăng trưởng kinh tế, vừa phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội bức xúc như thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo và nguy cơ tái nghèo cao. Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã tập trung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) suốt các giai đoạn Đại hội, đạt nhiều kết quả nhưng cũng còn không ít hạn chế và thách thức. Do đó, việc nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1986 đến năm 2011 nhằm tổng kết thực tiễn, đánh giá ưu khuyết điểm và đúc rút bài học kinh nghiệm là yêu cầu vừa mang tính cấp thiết, vừa có ý nghĩa lịch sử và thực tiễn.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre đối với công tác XĐGN trong toàn bộ tiến trình lịch sử 25 năm đổi mới (1986 - 2011).

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác XĐGN từ năm 1986 đến năm 2011; trên cơ sở đó, rút ra các kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho công tác giảm nghèo hiện tại và tương lai.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày một cách có hệ thống những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo.
  2. Làm rõ những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, con người tác động và ảnh hưởng đến quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo.
  3. Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre quán triệt, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn qua hai giai đoạn: 1986 - 1995 và 1996 - 2011.
  4. Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre; từ đó tổng kết những kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Bến Tre về XĐGN và các hoạt động XĐGN diễn ra trên địa bàn tỉnh Bến Tre từ năm 1986 đến năm 2011.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 (mốc Bến Tre triển khai Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, bắt đầu công cuộc đổi mới) đến năm 2011 (năm kết thúc việc thực hiện chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 theo quy định của Chính phủ).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại địa bàn tỉnh Bến Tre (gồm thành phố Bến Tre và 8 huyện: Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách, Thạnh Phú), có đối chiếu, so sánh với một số địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với các lĩnh vực chủ yếu của XĐGN gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, giải quyết việc làm và an sinh xã hội cho người nghèo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước liên quan đến đề tài thành ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo nói chung ở Việt Nam và quốc tế.

  • Sách chuyên khảo và đề tài trong nước: Hà Quế Lâm (2002) với Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp; Bùi Minh Đạo (chủ biên, 2005) với Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên; Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia (2007) với Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam thành tựu, thách thức và giải pháp; Võ Thị Thu Nguyệt (2010) nghiên cứu kinh nghiệm XĐGN của Malaysia và Thái Lan; Lê Quốc Lý (chủ biên, 2012) với Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực trạng và giải pháp; Bùi Thị Hoàn (2013) nghiên cứu về sự phân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam. Về mặt lịch sử Đảng, có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh (2004) nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về chính sách xã hội giai đoạn 1991 - 2001; đề tài của Trịnh Quốc Tuấn (2004) về kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
  • Các bài báo khoa học và tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Phẩm (2005), Nguyễn Hữu Dũng (2007), Diệp Văn Sơn (2007), Nguyễn Thị Mai Chi (2010), Phạm Đức Kiên (2011), Nam Phương (2011), Nguyễn Thị Ngân (2011), Nguyễn Thị Kim Ngân (2011), Trần Lê Thanh (2011), Trần Ngọc Hiên (2011), Lê Quốc Lý (2012), Nguyễn Mai Phương (2012), Nguyễn Trọng Đàm (2012), Trần Thanh Lâm (2013), Nguyễn Lâm Thành (2013), Hồ Tố Lương (2009), Nguyễn Thị Thu Hoài (2012)...
  • Các ấn phẩm, báo cáo quốc tế: Ấn phẩm khảo cứu về Chương trình 135 giai đoạn II do Chính phủ Phần Lan tài trợ, UNDP và Ủy ban Dân tộc thực hiện (2012); báo cáo của Oxfam (2014) về các bất cập trong chính sách giảm nghèo tại Việt Nam; báo cáo Vietnam poverty analysis của Trung tâm kinh tế quốc tế Canberra và Sydney (2002); công trình Poverty and inequality in Vietnam: spatial patterns and geographic determinants của WB, SDC, IFPRI, IDS phối hợp các bộ ngành Việt Nam (2003).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Sơn (2007) về chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước trong cộng đồng người Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 1992 - 2002; đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Nguyễn Thị Ánh (2012) về XĐGN đối với đồng bào dân tộc Khmer, Chăm khu vực Tây Nam Bộ.
  • Các báo cáo khảo sát quốc tế: Báo cáo Mekong Delta poverty analysis của Cơ quan Phát triển quốc tế Úc (2003); dự án Phân tích hiện trạng nghèo đói ở đồng bằng sông Cửu Long do AusAID tài trợ, Tổ chức Tầm nhìn Thế giới, Viện Khoa học xã hội và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân TP. Hồ Chí Minh thực hiện (2004 - 2005). Các công trình này chỉ ra các nhóm dễ bị tổn thương tại khu vực là hộ thiếu đất sản xuất, cư dân nông thôn không có việc làm ổn định, đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tỉnh Bến Tre.

  • Sách Địa chí Bến Tre do Thạch Phương và Đoàn Tứ chủ biên (2001) cung cấp tư liệu lịch sử, tự nhiên, dân cư và kinh tế của tỉnh.
  • Cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre 1930 - 2000 (2003) phản ánh quá trình lãnh đạo khôi phục kinh tế, tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn 1980 - 1985 và công cuộc đổi mới đến năm 2000.
  • Đề tài khoa học Điều tra hiện trạng, xây dựng các giải pháp xóa đói, giảm nghèo, thu ngắn khoảng cách về sự phân hóa giàu nghèo của tỉnh Bến Tre do PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa chủ nhiệm (2006), tiến hành khảo sát xã hội học trên mẫu 432 hộ tại TP. Bến Tre, huyện Châu Thành và Thạnh Phú giai đoạn 2001 - 2005.

Vị trí của luận án: Kế thừa nguồn tư liệu và khung lý thuyết của các công trình đi trước, luận án của Nguyễn Tôn Phương Du tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu lịch sử: phục dựng đầy đủ, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre vận dụng chủ trương của Trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương từ năm 1986 đến 2011; làm rõ tính đặc thù của một địa bàn cù lao sông nước bị chia cắt; đồng thời đúc kết 4 nhóm kinh nghiệm lịch sử từ sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân, chống "giặc đói", giải phóng con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Luận án vận dụng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là nguyên tắc "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật". Về mặt khái niệm, luận án tiếp cận các định nghĩa và khung phân tích quốc tế:

  • Báo cáo năm 1990 và 2000 - 2001 của Ngân hàng Thế giới (WB) về nghèo đói là tình trạng thiếu hụt mức tiêu dùng/thu nhập tối thiểu, tính dễ bị tổn thương và thiếu tiếng nói trong xã hội.
  • Định nghĩa của Hội nghị Chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, Bangkok, 9-1993) coi đói nghèo là tình trạng bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản đã được xã hội thừa nhận.
  • Quan điểm của Amartya Sen (giải Nobel 1998) coi nghèo đói là sự thiếu hụt cơ bản về năng lực và cơ hội phát triển.
  • Tiêu chí của Liên Hợp Quốc, Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen (1995) và phân loại của Trung tâm Nghiên cứu về Dân số và Lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam) về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối cùng hệ thống chuẩn nghèo qua 6 lần điều chỉnh của Chính phủ (1993 - 2011).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện khách quan, chân thực và có hệ thống tiến trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác XĐGN qua các thời kỳ.
  • Phương pháp lôgíc: Phân tích, xâu chuỗi bản chất của các chủ trương, chính sách; làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa sự lãnh đạo của Đảng bộ với kết quả chuyển biến kinh tế - xã hội, chỉ ra quy luật vận động và đúc rút bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu, so sánh lịch sử, điều tra khảo sát thực tế.

Nguồn tư liệu:

  • Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ về công tác XĐGN.
  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre (các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX), các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, kế hoạch của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre; các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ và chuyên đề của HĐND, UBND tỉnh Bến Tre, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh Bến Tre.
  • Nguồn tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Thông tin và Lưu trữ - UBND tỉnh Bến Tre, Văn phòng Tỉnh ủy Bến Tre, cùng các tư liệu sách, báo, tạp chí chuyên ngành đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre từ năm 1986 đến năm 1995

Chương 1 tập trung phân tích các yếu tố tiền đề về tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến đời sống nhân dân Bến Tre, thực trạng đói nghèo trước năm 1986, và quá trình hình thành chủ trương, triển khai công tác XĐGN của Đảng bộ tỉnh trong 10 năm đầu đổi mới.

Về đặc điểm tự nhiên và xã hội: Tỉnh Bến Tre có diện tích 236.062,07 ha, hợp thành từ 3 cù lao (Minh, Bảo, An Hóa), bị chia cắt bởi 4 nhánh sông lớn thuộc hệ thống sông Cửu Long (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên) với hơn 2.000 km kênh rạch. Điều kiện này gây trở ngại lớn cho giao thông đường bộ, giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế. Địa phương chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn từ gió chướng (tháng 2 đến tháng 4), triều cường và thiên tai. Sau năm 1975, Bến Tre gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề với 25 vạn người chết và nhiễm chất độc hóa học, hơn 3 vạn gia đình liệt sĩ, 1,5 vạn thương binh, một phần ba lực lượng lao động thiếu việc làm.

Giai đoạn trước năm 1986, sản xuất nông nghiệp của tỉnh gặp khó khăn nghiêm trọng do hạn hán, rầy nâu (giai đoạn 1977 - 1979 làm 20.000 dân phải phiêu dạt sang các tỉnh khác). Tác động của cuộc điều chỉnh giá - lương - tiền (tháng 10-1985) đẩy lạm phát lên cao, hàng hóa khan hiếm, đời sống công nhân viên chức và nông dân giảm sút.

Từ năm 1986 đến 1995, thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI và các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã ban hành các chủ trương chuyển hướng kinh tế:

  • Đưa sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tập trung thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu).
  • Chỉ đạo thâm canh lúa, mở rộng diện tích vườn cây ăn trái, cải tạo giống cây trồng, phát triển kinh tế biển và thủy sản.
  • Triển khai các biện pháp cứu đói, trợ cấp xã hội, huy động sức dân làm thủy lợi nội đồng, đắp đập ngăn mặn giữ ngọt, khai hoang phục hóa, tạo việc làm tại chỗ.

Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ trong giai đoạn này giúp tỉnh từng bước ổn định sản xuất, kiềm chế đà suy giảm kinh tế, giải quyết tình trạng đói giáp hạt và tạo tiền đề để chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh XĐGN theo chương trình mục tiêu.

Chương 2: Lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo từ năm 1996 đến năm 2011

Chương 2 trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khi công tác XĐGN được tổ chức thực hiện gắn kết với các Chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ (Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN, các quyết định điều chỉnh chuẩn nghèo).

Những biện pháp chỉ đạo trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Bến Tre gồm:

  1. Phát triển kinh tế nông - lâm - thủy sản và công nghiệp: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản bình quân 7,7%/năm; phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 42.865 ha vào năm 2011 với sản lượng 186.913 tấn. Phát triển công nghiệp chế biến dừa và thủy sản tại Khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp, giải quyết việc làm cho trên 20.000 lao động; duy trì 45 làng nghề (trong đó có 17 làng nghề truyền thống).
  2. Đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt nhằm phá thế biệt lập: Chỉ đạo tập trung nguồn lực xây dựng các công trình giao thông và thủy lợi lớn như cầu Rạch Miễu (khánh thành 19-1-2009), cầu Hàm Luông (khánh thành 24-4-2010), hệ thống thủy lợi ngọt hóa Bắc Bến Tre, đê biển Ba Tri. Thực hiện kiên cố hóa, bê tông hóa giao thông nông thôn, xóa hàng nghìn cầu khỉ, đưa đường ô tô về 100% trung tâm các xã.
  3. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế: Nâng tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ từ 0% (1985) lên 43% (2000) và đạt 100% từ năm 2005; năm 2011 toàn tỉnh có 158/164 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (tỷ lệ 96,34%). Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 98% (2011), tỷ lệ dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh đạt 75% theo chuẩn mới.
  4. Xã hội hóa công tác giảm nghèo: Huy động sức mạnh của Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo, người tàn tật và trẻ mồ côi... đẩy mạnh phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà nghĩa tình đồng đội, trợ vốn vay ưu đãi qua Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Dưới đây là bảng tổng hợp biến động một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội và giảm nghèo của tỉnh Bến Tre giai đoạn 1985 - 2011 được công bố trong văn bản luận án:

STT Chỉ tiêu kinh tế - xã hội Đơn vị tính 1985 2000 2005 2010 2011
1 GDP bình quân đầu người/năm Triệu đồng 0,001 4,2 7,8 17,2 23,7
2 Tổng kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 34,7 96,32 230 363,93 67*
3 Tổng thu ngân sách địa phương Tỷ đồng 0,2 300 653,6 873 1.120
4 Tỷ trọng Khu vực I (Nông - lâm - thủy sản) % 61,3 67,65 57,5 46,3 50,8
5 Tỷ trọng Khu vực II (Công nghiệp - xây dựng) % 21,8 12,72 16,8 18,4 16,6
6 Tỷ trọng Khu vực III (Thương mại - dịch vụ) % 16,9 19,63 25,7 35,3 32,7
7 Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm % 95,5 99,39 100 100 100
8 Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện % - 71,96 85,01 96,8 98
9 Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh % - 48,3 70 85 75 (tiêu chí mới)
10 Số xã đạt chuẩn phổ cập GD THCS Xã 0 33 140 164 164
11 Số trường học đạt chuẩn quốc gia Trường 0 16 51 115 118
12 Tỷ lệ trạm y tế xã/phường có bác sĩ % 0 43 100 100 100
13 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng % - 28 23 17 16
14 Tỷ lệ hộ nghèo % 14 3,62 (chuẩn cũ) 20,02 (chuẩn mới) 9 13 (chuẩn mới)

(Nguồn số liệu: Bảng tổng hợp của UBND tỉnh Bến Tre trích dẫn trong luận án).

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 3 tiến hành đánh giá tổng thể những ưu điểm, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre và rút ra 4 bài học kinh nghiệm lịch sử.

Ưu điểm:

  • Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng đắn và kịp thời cụ thể hóa đường lối đổi mới, các chủ trương, chính sách giảm nghèo của Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
  • Tận dụng hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ kết hợp với nội lực, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, phát huy truyền thống đoàn kết tương thân tương ái.
  • Xây dựng được kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, xóa thế biệt lập ốc đảo, tạo điều kiện giao thương và chuyển đổi cơ cấu sản xuất.
  • Đời sống vật chất, văn hóa, y tế, giáo dục của người dân nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng bãi ngang ven biển từng bước được cải thiện rõ nét.

Hạn chế và nguyên nhân:

  • Tỷ lệ giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao trước tác động của thiên tai, hạn mặn, dịch bệnh trong nông - thủy sản và biến động giá cả thị trường ("được mùa - mất giá").
  • Nguồn lực đầu tư cho công tác XĐGN còn hạn hẹp, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn; phân bổ vốn có lúc còn dàn trải.
  • Một bộ phận người dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ và trợ cấp của Nhà nước, thiếu ý chí vươn lên làm giàu chính đáng.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, sản xuất công nghiệp chủ yếu là sơ chế và gia công, thiếu các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.

4 bài học kinh nghiệm được tác giả luận án đúc kết:

  1. Nhất quán trong nhận thức và hành động coi xóa đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm: Cấp ủy và chính quyền các cấp phải coi XĐGN là nhiệm vụ chính trị xuyên suốt, gắn mục tiêu giảm nghèo với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
  2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ: Nâng cao năng lực chỉ đạo, chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội ở ấp, xã.
  3. Huy động mọi nguồn lực cho xóa đói, giảm nghèo; kết hợp đồng bộ chính sách xóa đói, giảm nghèo với các chính sách kinh tế - xã hội: Đa dạng hóa nguồn vốn (ngân sách nhà nước, vốn tín dụng chính sách, tài trợ quốc tế và vận động cộng đồng), kết hợp đồng bộ giữa chính sách giảm nghèo với chính sách giải quyết việc làm, đào tạo nghề, bảo trợ xã hội và xây dựng nông thôn mới.
  4. Động viên, khuyến khích, hỗ trợ người nghèo tự vươn lên, đồng thời có những chính sách ngăn chặn tái nghèo hiệu quả: Tuyên truyền thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người nghèo, xóa bỏ tư tưởng ỷ lại; triển khai các giải pháp trợ giúp có điều kiện, chuyển giao khoa học kỹ thuật, phòng ngừa rủi ro thiên tai và biến động kinh tế để ngăn chặn nguy cơ tái nghèo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các điểm đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn như sau:

  • Làm rõ tính đặc thù về tự nhiên (địa hình 3 dải cù lao, sông ngòi chằng chịt, nguy cơ xâm nhập mặn), kinh tế và xã hội tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác XĐGN.
  • Phục dựng và luận giải một cách có hệ thống, toàn diện toàn bộ chủ trương, biện pháp và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác XĐGN của Đảng bộ tỉnh Bến Tre suốt chặng đường 25 năm đổi mới (1986 - 2011).
  • Đánh giá khách quan, khoa học những thành tựu đạt được cũng như các hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.
  • Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho công tác hoạch định và thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
  • Về mặt tư liệu: Khai thác, hệ thống hóa và xác minh nhiều nguồn tư liệu lưu trữ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bến Tre và các sở, ngành liên quan, bổ sung tư liệu mới phục vụ nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương.

Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành; đổi mới chính sách hỗ trợ theo hướng giảm hỗ trợ cho không, tăng cho vay có điều kiện gắn với hướng dẫn sản xuất; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn và đầu tư hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn mặn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đến năm 2011 (năm kết thúc chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010), do đó chưa thể phản ánh các chính sách giảm nghèo đa chiều và chuẩn nghèo giai đoạn sau năm 2011.
  • Về nội dung, công trình tập trung chủ yếu vào sự lãnh đạo của Đảng bộ trên các lĩnh vực then chốt như hạ tầng, đời sống vật chất, y tế, giáo dục, giải quyết việc làm; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện mọi khía cạnh chuyên biệt về tâm lý xã hội học của từng nhóm hộ nghèo đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre đối với công tác giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều trong các giai đoạn từ sau năm 2011 đến nay.
  • Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn sâu đối với sinh kế của người nghèo tại các huyện ven biển Bến Tre (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xã hội học và Quản lý công khi tìm hiểu về lịch sử kinh tế - xã hội địa phương và các chính sách an sinh xã hội thời kỳ đổi mới.
  • Cán bộ lãnh đạo, cơ quan quản lý, ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp tại tỉnh Bến Tre và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, xây dựng và thực thi các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
  • Giảng viên các trường chính trị tỉnh, các cơ sở giáo dục đại học làm tài liệu giảng dạy phần lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử kinh tế Việt Nam.

Phần nội dung phân tích đặc điểm địa phương tác động đến đói nghèo (Chương 1) và 4 bài học kinh nghiệm lịch sử (Chương 3) là những phần có giá trị tham khảo chuyên môn cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lấy mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2011 dựa trên cơ sở khoa học nào?
Năm 1986 là thời điểm Bến Tre thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Năm 2011 là năm cuối cùng tỉnh Bến Tre hoàn thành việc thực hiện chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 theo quy định của Chính phủ để chuyển sang giai đoạn chuẩn nghèo mới.

2. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bến Tre tạo ra những rào cản đặc thù gì cho công tác xóa đói, giảm nghèo?
Bến Tre có địa hình gồm 3 cù lao (Minh, Bảo, An Hóa), bị chia cắt bởi 4 sông lớn (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên) và hơn 2.000 km kênh rạch. Điều này khiến giao thông đường bộ thời kỳ đầu rất khó khăn, việc tiêu thụ nông sản bị cản trở. Tỉnh còn thường xuyên chịu tác động của gió chướng gây xâm nhập mặn từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm, ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi và nguồn nước sinh hoạt.

3. Tỷ lệ hộ nghèo tại tỉnh Bến Tre biến động như thế nào qua các mốc thời gian trong luận án?
Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh năm 1985 là 14%; đến năm 2000 giảm xuống còn 3,62% (theo tiêu chí cũ). Năm 2005, khi áp dụng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ hộ nghèo tăng lên 20,02%. Đến năm 2010, tỷ lệ này giảm xuống còn 9%, và năm 2011 là 13% khi bắt đầu thống kê theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 - 2015.

4. Hai công trình giao thông trọng điểm nào được khánh thành trong giai đoạn nghiên cứu giúp Bến Tre phá vỡ thế biệt lập ốc đảo?
Đó là cầu Rạch Miễu (khánh thành ngày 19-1-2009) nối Bến Tre với Tiền Giang và cầu Hàm Luông (khánh thành ngày 24-4-2010) kết nối cù lao Bảo với cù lao Minh.

5. Luận án đúc kết được mấy bài học kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo?
Luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm: (1) Nhất quán trong nhận thức và hành động coi XĐGN là nhiệm vụ trọng tâm; (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện công tác XĐGN đáp ứng yêu cầu; (3) Huy động mọi nguồn lực, kết hợp đồng bộ chính sách XĐGN với các chính sách kinh tế - xã hội; (4) Động viên, khuyến khích người nghèo tự vươn lên và có chính sách ngăn chặn tái nghèo hiệu quả.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 1986 đến năm 2011" của Nguyễn Tôn Phương Du là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng mang tính hệ thống, phục dựng chân thực chặng đường 25 năm chỉ đạo công tác an sinh xã hội tại một tỉnh cù lao sông nước miền Tây Nam Bộ. Bằng việc phân tích các chuyển biến từ chủ trương đến thực tiễn đầu tư hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi và chăm lo đời sống nhân dân, tác giả đã làm rõ các thành tựu giảm nghèo ấn tượng gắn liền với từng giai đoạn điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ. Đồng thời, công trình chỉ rõ các tồn tại về nguy cơ tái nghèo do rủi ro thiên tai, hạn mặn và thị trường, từ đó đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp phát triển bền vững của địa phương.