Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trước năm 2001 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng *Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao biên giới, phía Đông Bắc của tổ quốc. Nằm ở tọa độ địa lý 22o22’ - 23o07’ vĩ Bắc, 105o40’ - 106o40’ kinh Đông.
Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, có đường biên giới dài 311 km2. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn. Tỉnh Cao Bằng có 12 huyện, 01 thị xã với 189 xã, phường, thị trấn. Diện tích tự nhiên là 6.690,72km2 chiếm 2,12% diện tích tự nhiên của cả nước.
Có 3 cửa khẩu (Tà Lùng, Hùng Quốc, Sóc Hà) là lợi thế quan trọng tạo cho Cao Bằng điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với nước ngoài, nhất là với Trung Quốc. Cao Bằng là tỉnh nằm sâu trong nội địa, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả nước (Thị xã Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km theo Quốc lộ 3), giao lưu chỉ có duy nhất theo đường bộ. Do hạn chế về điều kiện giao thông nên việc giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh, các vùng trong cả nước còn nhiều khó khăn. Về địa hình, địa hình tỉnh Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp hình thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái: Tiểu vùng đá vôi ở phía Bắc và Đông Bắc chiếm 32% diện tích tự nhiên của tỉnh, phần lớn nằm dọc biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Bảo lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng 9 z Uyên, Phục Hòa, Thạch An.
Đặc trưng chủ yếu là xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp, thiếu nước về mùa khô, độ cao trung bình 700 - 1000m. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: ngô, đỗ tương, dược liệu, khoáng sản. Tiểu vùng núi đất ở phía Tây và Tây Nam chiếm 18% diện tích tự nhiên của cả tỉnh thuộc các huyện Bảo Lạc và Nguyên Bình. Đặc trưng chủ yếu là địa hình chia cắt mạnh, dốc lớn, độ cao trung bình 700 - 1100m.
Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, khoáng sản. Tiểu vùng núi đất thuộc thượng nguồn sông Hiến chiếm 38% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đặc trưng chủ yếu là thoải dần xuống bồn địa Cao Bằng, địa hình vẫn còn chia cắt mạnh, độ dốc vẫn còn lớn, xen kẽ giữa các dãy núi cao là những thung lũng hẹp, độ cao trung bình 200 - 600m. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: chăn nuôi và lâm nghiệp.
Tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hòa An dọc sông Bằng chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đây là vùng trồng lúa nước lớn nhất của tỉnh. Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lúa, thuốc lá, thủy sản. Về khí hậu, Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao (khí hậu Châu Á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt thay đổi lớn, lượng mưa ít và phân bố không đều.
Mưa, bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa trung bình hàng năm 1. Vùng mưa nhiều gồm các huyện Nguyên Bình, bắc Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hạ Lang là 1.900mm; vùng mưa trung bình: Hòa An, nam Hà Quảng, Trùng Khánh là 1. Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương muối, mưa đá xảy ra thường xuyên. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất 350oC, thấp nhất 0oC.
Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8) nhiệt độ trung bình là 30 - 34oC; tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông, nhiệt 10 z độ trung bình là 5 - 6oC, tháng lạnh nhất là tháng 1. Tần suất sương muối thường xảy ra vào tháng 1 và tháng 2. Với đặc điểm khí hậu đặc thù, đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây con phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng…mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển Về nguồn lao động: theo tổng điều tra dân số 1/4/1999, dân số Cao Bằng có 490.335 người, trong đó có 421.999 người sống ở nông thôn, chiếm 86,06% tổng dân số; gồm có các dân tộc chủ yếu sau: dân tộc Tày 208.822 người, chiếm 42,58%; dân tộc Nùng 161.134 người, chiếm 32,86%; dân tộc Dao 47.218 người, chiếm 9,63%; dân tộc Mông 41.437 người, chiếm 8,45; dân tộc Kinh 22.956 người, chiếm 4,68%. Ngoài ra là các dân tộc: Sán Chỉ, Lô Lô, Hoa, Mường, Thái, người nước ngoài và một số ít dân tộc khác.
Dân số từ 13 tuổi có 335.746 người, chiếm 68,47%, trong đó có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 36.670 người chiếm 10,92%. Trong số này số người có trình độ Cao Đẳng và Đại học là 7.306 người, chiếm 2,76%. Lao động nông - lâm - nghiệp chiếm 79%. Như vậy, lực lượng lao động đã qua đào tạo mới chỉ chiếm khoảng 15,1% tổng số lao động, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước (22%), còn thiếu lao động có kỹ thuật và tay nghề cao, hệ số sử dụng lao động ở nông thôn mới đạt khoảng trên 70%, năng suất lao động thấp.
Về tài nguyên đất, Cao Bằng có 598.735,1 ha đất nông - lâm nghiệp, chiếm 89,1% diện tích đất tự nhiên. Trong đó đất nông nghiệp truyền thống có diện tích trên 85,3 nghìn ha (chiếm 12,5%), đất lâm nghiệp gần 514,9 nghìn ha (chiếm 76,6%), đất nuôi trồng thủy sản là 313,33 ha (chiếm 0,05%). Hệ số sử dụng đất đạt 1,3 lần. Đất phi Nông nghiệp chiếm 3, 18% diện tích đất tự nhiên (khoảng 21.340,7 ha), bao gồm đất thổ cư, đất dành cho công trình hạ tầng và quốc phòng – an ninh.
Ngoài ra, Cao Bằng còn có 51.880 ha 11 z đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, với diện tích đất phù sa, bằng phẳng, tuy chỉ chiếm 10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh nhưng cũng có những cánh đồng nhỏ, mầu mỡ dọc theo triền các dòng sông, hoặc trên những thung lũng như: Sóc Hà, Đôn Chương, Phù Ngọc, Đồng Mu, Bó Bạch, Thạch Bình, Cổ Nông, Thông Huề, Pò Tấu, Tiên Thành…mà trong số đó lớn nhất là cánh đồng của huyện Hòa An trải dài trên 20km, đất đai phì nhiêu, tiện lợi canh tác, vì thế những nơi này dân cư rất đông đúc và có cuộc sống sung túc hơn. Về tài nguyên rừng, thế mạnh của tỉnh Cao Bằng trước hết là rừng và đất rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2001 có quy mô là 286.363 ha, trong đó rừng tự nhiên là 271. Rừng của Cao Bằng có giá trị kinh tế cao với nguồn lâm thổ sản phong phú, trong đó phải kể đến các loại: Sa Nhân, Mộc Nhĩ, Nấm Hương, Cánh Kiến…và các loại hạt có dầu (Trẩu, Sở, Lạc…) các cây dược liệu, thuốc bổ đông y quý hiếm như Nhân Sâm, Tam Thất, Ngũ Gia Bì…Trong rừng còn có nhiều Mây, Song và nhiều loại gỗ quý như Trai, Nghiến, Lim, Lát, Đinh, Dổi…Đây là một trong những lợi thế tiềm năng của Cao Bằng. Về tài nguyên khoáng sản, Cao Bằng là một trong những tỉnh miền núi có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, trong đó có những khoáng sản có tiềm năng lớn, giá trị kinh tế cao, đã và đang được khai thác phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Qua khảo sát, có tới 150 điểm mỏ với 22 loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt như mỏ Quặng sắt (Nà Lủng - thị xã); Thiếc (Tĩnh Túc - Nguyên Bình); Măng Gan (Trà Lĩnh, Trùng Khánh)… Đáng kể nhất là Sắt trữ lượng khoảng 60 triệu tấn, Bôxít trữ lượng khoảng 180 triệu tấn, Măng Gan trữ lượng khoảng 2,7 triệu tấn, Thiếc trữ lượng khoảng 11,5 nghìn tấn. Ngoài ra còn có Vàng, Đồng, Niken, Chì, Urani, Berili, Barit, Fluorit, Photphorit, đá quý Rupi, Saphia…có thể khai thác trong vài chục năm tới; đá Vôi có trữ lượng hàng 12 z ngàn triệu tấn, có nhiều công dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp trong tương lai. Như vậy, với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và những nguồn tài nguyên sẵn có, Cao Bằng có những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tạo những thuận lợi nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh.
Song điều kiện tự nhiên của Cao Bằng cũng gây nên những khó khăn nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là đối với các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh. *Điều kiện kinh tế - xã hội Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Cao Bằng có nhiều thuận lợi nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu ngành nghề đa dạng. Về nông - lâm nghiệp: Cao Bằng có gần 95.000 ha (chiếm 14,12% đất tự nhiên toàn tỉnh) đất dành cho sản xuất nông nghiệp, trên 534.000 ha (trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đất lâm nghiệp có rừng và trên 400 ha đất nuôi trồng thủy sản. Là một tỉnh biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát triển.
Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng qua các năm. Cơ cấu ngành nông nghiệp chia thành 3 ngành chính là trồng trọt (chiếm trên 65% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp), chăn nuôi (chiếm trên 30%) và dịch vụ (dưới 5%). Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả (lê, mận, cam, hạt dẻ); cây rau, đậu và gia vị; và cây công nghiệp (chè đắng). Ngành chăn nuôi của Cao Bằng tập trung vào các loại gia súc lớn như trâu, bò, ngựa; gia súc nhỏ như lợn, dê, và các loại gia cầm.
Cao Bằng có 2 giống bò địa phương là bò Cỏ và bò U H’Mông, trong đó bò U H’Mông có trọng lượng lớn, chất lượng tốt. Đồng thời, tỉnh cũng đầu tư xây dựng trại lợn giống có tỷ lệ nạc cao và tập trung phát triển các dịch vụ nông nghiệp.